1. Khái niệm quyền dân tộc tự quyết

Quyền dân tộc tự quyết là quyền tự mình định đoạt những công việc thuộc về vận mệnh của dân tộc mình, như lập ra một nhà nước dân tộc riêng, độc lập, hoặc cùng với các dân tộc khác thành lập một nhà nước nhiều dân tộc trên cơ sở bình đẳng về quyền và nghĩa vụ.

Quyền của một dân tộc tự quyết định là một nguyên tắc chung trong luật pháp quốc tế hiện đại (thường được coi là quy tắc jus cogens ), ràng buộc, như vậy, trên Liên Hợp Quốc như là sự giải thích có thẩm quyền các tiêu chuẩn của Hiến chương. Nó tuyên bố rằng một dân tộc, dựa trên tôn trọng nguyên tắc bình đẳng quyền và bình đẳng công bằng của cơ hội, có quyền tự do lựa chọn chủ quyền của họ và tình trạng chính trị quốc tế mà không có sự can thiệp.

2. Nội dung của nguyên tắc dân tộc tự quyết

Nội dung của nguyên tắc dân tộc tự quyết bao hàm các nội dung sau:

– Được thành lập quốc gia độc lập hay cùng với các dân tộc khác thành lập quốc gia liên bang (hoặc đơn nhất) trên cơ sở tự nguyện;

– Tự lựa chọn cho mình chế độ chính trị, kinh tế xã hội;

– Tự giải quyết các vấn đề đối nội không có sự can thiệp từ bên ngoài;

– Quyền các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc tiến hành đấu tranh, kể cả đấu tranh vũ trang để giành độc lập và nhận sự giúp đỡ và ủng hộ từ bên ngoài, kể cả giúp đỡ về quân sự;

– Tự lựa chọn con đường phát triển phù hợp với truyền thống, lịch sử văn hóa, tín ngưỡng, điều kiện địa lý.

Tất cả các quyền nêu trên của mỗi dân tộc đều được các dân tộc và các quốc gia khác tôn trọng.

Ngoại lệ của nguyên tắc

Nguyên tắc này không thừa nhận bất kỳ ngoại lệ nào.

3. Quyền dân tộc tự quyết trong pháp luật quốc tế  

    Tôn trọng quyền của các dân tộc được tự do lựa chọn con đường và hình thức phát triển là một trong những cơ sở quan trọng để thiết lập các quan hệ quốc tế. Quyền này được thể hiện một cách tập trung nhất trong nguyên tắc dân tộc tự quyết, dựa trên nền tảng chủ quyền dân tộc. Theo đó, quyền dân tộc tự quyết được ghi nhận trong Hiến chương Liên hợp quốc và trong nhiều văn bản pháp lý quốc tế quan trọng như: Tuyên bố về trao trả độc lập cho các nước và dân tộc thuộc địa năm 1960; Công ước quốc tế về các quyền dân sự chính trị năm 1966; Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966; Tuyên bố năm 1970 về các nguyên tắc của Liên hợp quốc.

    Khoản 2 Điều 1 Hiến chương Liên hợp quốc ghi nhận “phát triển quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền và dân tộc tự quyết”. Như vậy, khái niệm “dân tộc tự quyết” được nhắc đến trong Hiến chương Liên hợp quốc không phải là quyền đòi ly khai hay đòi độc lập của một hay nhiều nhóm sắc tộc, dân tộc thiểu số vốn đã là những thành phần trong một quốc gia - dân tộc thống nhất. Quyền dân tộc tự quyết ở đây chỉ thuộc về nhân dân theo nghĩa là tất cả dân cư thường xuyên sinh sống trên lãnh thổ của một quốc gia nhất định - chủ thể luật quốc tế.

    Tuyên bố năm 1970 về các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế đã khẳng định “việc thiết lập một nhà nước độc lập có chủ quyền hay tự do gia nhập vào nhà nước độc lập khác hoặc liên kết với quốc gia đó cũng như việc thiết lập bất cứ chế độ chính trị nào do nhân dân tự do quyết định là các hình thức thể hiện quyền dân tộc tự quyết”. Nguyên tắc dân tộc tự quyết bao hàm các nội dung sau: 

    - Được thành lập quốc gia độc lập hay cùng với các dân tộc khác thành lập quốc gia liên bang (hoặc đơn nhất) trên cơ sở tự nguyện; 

    - Tự lựa chọn cho mình chế độ chính trị, kinh tế xã hội;

    - Tự giải quyết các vấn đề đối nội không có sự can thiệp từ bên ngoài;

    - Quyền các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc tiến hành đấu tranh, kể cả đấu tranh vũ trang để giành độc lập và nhận sự giúp đỡ và ủng hộ từ bên ngoài, kể cả giúp đỡ về quân sự;

    - Tự lựa chọn con đường phát triển phù hợp với truyền thống, lịch sử văn hóa, tín ngưỡng, điều kiện địa lý.

    Tất cả các quyền nêu trên của mỗi dân tộc đều được các dân tộc và các quốc gia khác tôn trọng. Như vậy, “quyền dân tộc tự quyết” được hiểu là việc một “quốc gia - dân tộc” hoàn toàn tự do trong việc tiến hành cuộc đấu tranh giành độc lập cũng như lựa chọn thể chế chính trị, đường lối phát triển đất nước. 

4. Tư tưởng của V.I.Lênin về quyền dân tộc tự quyết

V.I.Lênin đã đưa ra định nghĩa rất rõ ràng, quyền dân tộc tự quyết của các dân tộc chính là quyền tự quyết về chính trị: “Quyền dân tộc tự quyết có nghĩa là quyền phân lập về mặt Nhà nước của các dân tộc đó ra khỏi tập thể dân tộc khác, có nghĩa là sự thành lập một quốc gia dân tộc độc lập”, Người nói rõ hơn: “Quyền dân tộc tự quyết hoàn toàn chỉ có nghĩa là các dân tộc có quyền độc lập chính trị, có quyền tự do phân lập, về mặt chính trị, khỏi dân tộc áp bức họ”. Như vậy, quyền dân tộc tự quyết là quyền của một dân tộc có thể tách ra trở thành một quốc gia dân tộc độc lập với việc tự quyết định thể chế chính trị của mình khỏi một dân tộc khác đang áp bức họ.

Giá trị của tư tưởng V.I.Lênin về quyền dân tộc tự quyết chính là luôn đứng trên lập trường của giai cấp vô sản để giải quyết vấn đề quyền dân tộc tự quyết. Không phải Ông ủng hộ bất cứ một dân tộc nào trong một quốc gia thống nhất đòi tách ra thành lập quốc gia riêng biệt mà V.I.Lênin chỉ ủng hộ việc tách ra thành một quốc gia riêng biệt khi dân tộc đó bị áp bức, bóc lột bằng các biện pháp bạo lực.

Trong bối cảnh của thế giới thời kỳ của V.I.Lênin sống, chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh đã phát triển thành chủ nghĩa đế quốc đi xâm chiếm thuộc địa, biến các quốc gia, dân tộc nhỏ yếu hơn trở thành thuộc địa của mình, hay nói cách khác, tình trạng áp bức của quốc gia này lên quốc gia khác cũng là rất phổ biến một phần lớn của châu Á, bộ phận đông đảo nhất của thế giới, hiện đang ở trong tình trạng, hoặc là thuộc địa của các “cường quốc lớn”, hoặc là quốc gia hết sức bị phụ thuộc và bị áp bức về mặt dân tộc. Trong bối cảnh của nước Nga và thế giới đang có sự áp bức dân tộc bằng bạo lực như vậy, V.I.Lênin đã nói đến quyền dân tộc tự quyết. Như vậy, quyền dân tộc tự quyết được đặt ra khi có điều kiện, chứ không phải lúc nào cũng nói đến quyền dân tộc tự quyết. Điều kiện đó chính là khi sự áp bức dân tộc đang diễn ra và người dân không thể chịu đựng được cuộc sống đó chỉ quyết định phân lập ra khi nào sự áp bức dân tộc và những xung đột dân tộc làm cho cuộc sống chung tuyệt đối không thể chịu được, làm cho mọi thứ quan hệ kinh tế bị trở ngại.

V.I.Lênin đã đưa ra điều kiện để đặt ra vấn đề quyền dân tộc tự quyết. Do đó, chúng ta cần nhận thức rõ rằng, trong điều kiện đất nước đang phát triển bình thường thì không nói đến quyền dân tộc tự quyết, thậm chí là không nói đến chế độ liên bang khi nào và chừng nào các dân tộc khác nhau vẫn còn là một quốc gia thống nhất, thì không bao giờ, người mác xít lại đi tuyên truyền cho nguyên tắc liên bang, cũng như cho chế độ phân quyền. Đó là vì cả những người mác xít và quần chúng nhân dân đều thấy rất rõ lợi ích của việc duy trì những quốc gia có diện tích lớn và dân số đông có ưu thế hơn nhiều so với các quốc gia nhỏ và dân số ít. Những người mác xít đều thừa hiểu rằng “Với những điều kiện như nhau, thì so với các nước nhỏ, các nước lớn có thể giải quyết một cách thành công hơn nhiều đối với những nhiệm vụ của sự tiến bộ kinh tế và của cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản.

Mục đích của việc thực hiện quyền dân tộc tự quyết là nhằm bảo đảm bình đẳng dân tộc. Bởi lẽ, quyền này chỉ được nói đến khi có áp bức bằng dân tộc không thể nào chấp nhận được, do đó việc thực hiện quyền dân tộc tự quyết là để xóa bỏ tình trạng áp bức dân tộc đang hiện hữu, thực hiện bình đẳng dân tộc. V.I.Lênin lấy ví dụ về trường hợp Na Uy và Thụy Điển “Na Uy tự trị với tư cách là một bộ phận của Thụy Điển, đã được hưởng quyền tự trị rất rộng rãi cho đến năm 1905, nhưng vẫn không được bình đẳng về quyền lợi với Thụy Điển. Ủng hộ quyền dân tộc tự quyết không có nghĩa là muốn chia tách thành những quốc gia nhỏ bé, cũng như ủng hộ quyền tự do ly hôn không có nghĩa là khuyến khích ly hôn. Lênin chỉ ủng hộ quyền dân tộc tự quyết khi dân tộc đó đang bị áp bức bằng bạo lực trong một quốc gia dân tộc khác, cũng giống như chỉ ủng hộ ly hôn khi sự trầm trọng của cuộc sống chung là không thể kéo dài, không ly hôn chỉ gây ra đau khổ cho người trong cuộc.

Theo V.I.Lênin, trong điều kiện đang có áp bức dân tộc mà không nói đến quyền dân tộc tự quyết tức là ủng hộ cho tình trạng áp bức dân tộc này, cũng như khi sự trầm trọng của cuộc sống chung là không thể kéo dài mà không nói đến quyền tự do ly hôn chỉ là kéo dài sự đau khổ mà thôi. Những người mácxít nói đến quyền dân tộc tự quyết không phải mà muốn chia rẽ, xé nhỏ các quốc gia. Người xã hội chủ nghĩa luôn hướng tới lợi ích chung của tất cả mọi người, tất cả mọi dân tộc, phấn đấu cho sự bình đẳng dân tộc không chỉ cho dân tộc mình mà còn cho cả dân tộc khác.

V.I.Lênin còn đưa ra những nguyên tắc cần đảm bảo trong thực hiện quyền dân tộc tự quyết.  Là người chống áp bức, nô dịch dân tộc dưới mọi hình thức nên V.I.Lênin cho rằng khi một dân tộc trong một quốc gia đòi thành lập quốc gia riêng thì các dân tộc khác (dân tộc chiếm đa số), nhà nước không được dùng các biện pháp bạo lực để đàn áp, cấm đoán việc thực hiện quyền dân tộc tự quyết. Đồng thời, các dân tộc đòi quyền tự quyết cũng phải bằng những biện pháp hòa bình và chính nhân dân trong dân tộc đó sẽ là người quyết định có phân lập ra thành quốc gia riêng hay không bằng biện pháp hòa bình thông qua bỏ phiếu kín.

Như vậy, V.I.Lênin phản đối việc dùng bạo lực để đòi quyền dân tộc tự quyết cả phía dân tộc đòi quyền tự quyết hay dân tộc, Nhà nước của một quốc gia chung đó.

V.I.Lênin cũng khẳng định nguyên tắc cơ bản là phải lấy lợi ích chung của đại đa số nhân dân làm tiêu chuẩn trong việc xem xét và giải quyết vấn đề quyền dân tộc tự quyết không được lẫn lộn vấn đề quyền dân tộc tự quyết (nghĩa là hiến pháp nhà nước bảo đảm một phương thức giải quyết hoàn toàn tự do và dân chủ vấn đề phân lập) với vấn đề xem xét một dân tộc nào đó có nên tách ra không. Trong mỗi trường hợp riêng biệt, vấn đề thứ hai này phải được đảng dân chủ - xã hội giải quyết một cách hoàn toàn độc lập, căn cứ vào lợi ích của toàn bộ sự phát triển xã hội và lợi ích của cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản vì chủ nghĩa xã hội. Nguyên tắc trong giải quyết vấn đề quyền dân tộc tự quyết là việc thực hiện quyền này vẫn phải đảm bảo lợi ích chung của toàn xã hội, hướng tới lợi ích chung của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đó là tiêu chí để xem xét có giải quyết quyền dân tộc tự quyết của một dân tộc nào đó hay không.

5. Ý nghĩa đối với thực hiện quyền tự quyết dân tộc ở Việt Nam

Có thể nói, quan niệm hiện nay của thế giới về quyền dân tộc tự quyết có sự tương đồng và gần gũi về quyền dân tộc tự quyết mà V.I.Lênin đã nói đến. Trong Tuyên bố năm 1970 về các nguyên tắc của luật quốc tế của Liên Hợp quốc đã nhấn mạnh: “Việc thiết lập một nhà nước độc lập có chủ quyền hay tự do gia nhập vào nhà nước độc lập khác hoặc liên kết với quốc gia đó, cũng như việc thiết lập bất cứ chế độ chính trị nào do nhân dân tự do quyết định là các hình thức thể hiện quyền dân tộc tự quyết” và “mỗi quốc gia đều có nghĩa vụ tôn trọng quyền này, phù hợp với Hiến chương Liên Hợp quốc”. Như vậy, quyền dân tộc tự quyết là quyền được thành lập quốc gia độc lập hay cùng với các dân tộc khác thành lập quốc gia liên bang hoặc đơn nhất trên cơ sở tự nguyện, là quyền tự do lựa chọn chế độ chính trị, kinh tế - xã hội, tự giải quyết các vấn đề đối nội không có sự can thiệp từ bên ngoài. Việc thực hiện các quyền này là do nhân dân của các dân tộc đó quyết định. Những quan niệm của luật pháp quốc tế về quyền tự quyết dân tộc là gần gũi với V.I.Lênin vì Ông cũng cho rằng, quyền tự quyết dân tộc là quyền quốc gia đó được tự do phân lập về mặt chính trị, nhà nước, tự quyết định thể chế chính trị trên cơ sở tự nguyện của toàn thể nhân dân bằng hình thức phổ thông đầu phiếu.

Kế thừa và vận dụng tư tưởng của V.I.Lênin về quyền tự quyết dân tộc, Đảng ta khẳng định khi các thế lực đế quốc, thực dân xâm lược nước ta, nô dịch, áp bức dân tộc ta thì chúng ta thực hiện đấu tranh để giành độc lập dân tộc, giành lấy bình đẳng dân tộc, thực hiện quyền tự quyết của dân tộc mình. Trong Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II, Đảng ta khẳng định “Mục đích cuộc kháng chiến của ta hiện nay là thực hiện quyền dân tộc tự quyết của dân tộc Việt Nam: dân tộc Việt Nam tự quyết định lấy số phận của mình, tự mình định lấy chế độ mà mình ưa thích. Dân tộc Việt Nam, đa số và thiểu số, tự giác và tự nguyện đoàn kết chặt chẽ thành một quốc gia để bảo vệ quyền đó. Không thể đặt vấn đề các dân tộc thiểu số ở Việt Nam tách rời khỏi nước Cộng hòa dân chủ Việt Nam”. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ mà chúng ta tiến hành chính là để thực hiện quyền dân tộc tự quyết, đưa nước ta trở thành nước độc lập tự do. Trong thời kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc trước đây, chúng ta đã thực hiện tốt quyền dân tộc tự quyết của mình. Hiện nay, các thế lực thù địch vẫn đang lợi dụng bối cảnh mới của thế giới, đặc biệt là xu thế quốc tế hóa, toàn cầu hóa để đe dọa đến quyền tự quyết dân tộc ở Việt Nam. Chúng đang thông qua việc chúng ta tham gia vào các thiết chế kinh tế, chính trị khu vực và quốc tế với việc đặt ra những điều kiện nhất định để chúng ta được gia nhập nhằm can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam, đe dọa đến quyền tự quyết định thể chế chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước. Chúng đã ra những mồi nhử về kinh tế như được vay vốn, được những ưu đãi về kinh tế... với những điều kiện can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Do đó, chúng ta phải tích cực và chủ động hội nhập quốc tế để tranh thủ, tận dụng những cơ hội, thời cơ do hội nhập quốc tế mang lại nhưng cũng phải cảnh giác, tỉnh táo tránh tình trạng mất quyền tự quyết dân tộc trong bối cảnh mới rất phức tạp hiện nay. Việc đấu tranh bảo đảm quyền tự quyết dân tộc mà V.I.Lênin nói đến vẫn đang được đặt ra một cách thường trực hiện nay.

Hiện nay, để tìm cách chống phá Việt Nam, các thế lực thù địch đã đánh tráo khái niệm rằng, V.I.Lênin đã nói đến quyền dân tộc tự quyết, quyền tự do phân lập để thành lập nhà nước riêng. Do đó, chúng kích động một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số ở nước ta đòi thành lập nhà nước riêng, kích động cho ly khai, tự trị. Các thế lực thù địch, phản động và tôn giáo cực đoan lưu vong ở nước ngoài đang thực hiện âm mưu lợi dụng “quyền dân tộc tự quyết” của người bản địa để hình thành các vùng đất tự trị trong lòng đất nước Việt Nam. Chúng kích động một bộ phận đồng bào Khmer ở vùng Tây Nam Bộ đòi thành lập “Nhà nước Khmer Krôm”; kích động một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên đòi thành lập “Nhà nước Đềga”, kích động một bộ phận đồng bào Chăm đòi thành lập “Vương quốc Chămpa”, kích động một bộ phận đồng bào Mông ở vùng Tây Bắc đòi thành lập “Vương quốc Mông” nhằm gây mất ổn định chính trị - xã hội, chia rẽ dân tộc, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân, từng bước tiến tới phá vỡ sự toàn vẹn lãnh thổ, thống nhất đất nước. Nhận thức đúng tư tưởng của V.I.Lênin về quyền tự quyết dân tộc chúng ta kiên quyết đập tan những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch này.

Trước hết, về mặt lý luận, pháp luật, chúng ta thấy cả tư tưởng của V.I.Lênin và luật pháp quốc tế đều khẳng định quyền tự quyết dân tộc thì dân tộc ở đây với tư cách là quốc gia dân tộc. Chúng ta cần phân biệt rõ quyền tự quyết dân tộc với quyền của người dân tộc thiểu số. Quyền tự quyết dân tộc là một quốc gia dân tộc bị một quốc gia khác áp bức trở thành thuộc địa, phụ thuộc được quyền tự do phân lập về mặt chính trị thành một quốc gia độc lập. Quyền đó khác với việc các thế lực đánh tráo khái niệm nói rằng V.I.Lênin ủng hộ quyền tự quyết dân tộc có nghĩa là một dân tộc tộc người nào đó trong một quốc gia có thể tách ra trở thành quốc gia riêng. Dân tộc thiểu số cùng với các dân tộc tộc người trong quốc gia đó tham gia vào việc thực hiện quyền tự quyết dân tộc chung của quốc gia mà họ đang sống nhưng không phải là một tộc người đòi tách ra thành quốc gia riêng. Pháp luật quốc tế cũng đã khẳng định điều này. Pháp luật quốc tế đã nói đến quyền của người dân tộc thiểu số trong một quốc gia. Hai văn kiện quốc tế nền tảng ghi nhận các quyền của con người đều khẳng định người dân tộc thiểu số có đầy đủ các quyền về dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa như những người thuộc dân tộc đa số trong xã hội, hoàn toàn bình đẳng và không có sự phân biệt đối xử. Trong Điều 2, Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội năm 1966 đã khẳng định “Các quốc gia thành viên cam kết bảo đảm rằng các quyền được nêu trong Công ước này sẽ được thực hiện không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hoặc các quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, tài sản, thành phần xuất thân hoặc các địa vị khác”. Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) năm 1966 ghi: “Tại những nước có nhiều nhóm dân tộc thiểu số, tôn giáo và ngôn ngữ cùng chung sống, thì những cá nhân thuộc các dân tộc, tôn giáo, ngôn ngữ và các thiểu số đó, cùng với những thành viên khác của cộng đồng mình, không thể bị tước bỏ quyền được thụ hưởng nền văn hóa riêng, quyền được thể hiện và thực hành tôn giáo riêng hoặc quyền được sử dụng tiếng nói riêng của họ” (Điều 3). Trong Tuyên bố về quyền của những người thuộc các nhóm thiểu số về dân tộc, chủng tộc, tôn giáo và ngôn ngữ năm 1992 ghi: “Các quốc gia sẽ bảo vệ sự tồn tại và bản sắc dân tộc hay sắc tộc, văn hóa, tôn giáo và ngôn ngữ của người thiểu số trong phạm vi lãnh thổ thuộc sự quản lý của họ và khuyến khích những điều kiện để thúc đẩy bản sắc đó; các quốc gia sẽ thông qua những biện pháp lập pháp và những biện pháp thích hợp khác để đạt được những mục tiêu này” (Điều 1). Như vậy rất nhiều văn bản pháp luật quốc tế thừa nhận quyền của người dân tộc thiểu số trên tất cả các mặt tương đương như người dân tộc đa số trong quốc gia đó, nhưng không có bất cứ một quy định của pháp luật quốc tế nào cho rằng một nhóm dân tộc thiểu số ở một quốc gia nào đó có quyền được ly khai, được thành lập một quốc gia độc lập.

Như vậy, quyền tự quyết dân tộc không phải là một tộc người trong một quốc gia trong điều kiện bình thường ổn định đòi thành lập quốc gia riêng. Hơn nữa, ở Việt Nam không có áp bức giữa tộc người này với tộc người khác. Đảng và Nhà nước ta luôn nhất quán thực hiện chính sách bình đẳng dân tộc, các tộc người ở Việt Nam đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, thậm chí chúng ta có nhiều chính sách ưu tiên cho đồng bào dân tộc thiểu số. Các dân tộc ở Việt Nam bình đẳng, đoàn kết cùng phát triển nên không có cơ sở để nói đến quyền tự quyết dân tộc ở Việt Nam hiện nay. Cần khẳng định rằng việc một tộc người nào đó đòi tách ra thành quốc gia riêng sẽ không có lợi cho dân tộc thiểu số đó cũng như cho cả nhân dân Việt Nam. Đó chỉ là âm mưu kéo lùi sự phát triển của Việt Nam, cản trở con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Vì vậy, chúng ta cần hiểu đúng đắn, sâu sắc, đầy đủ tư tưởng của V.I.Lênin để đấu tranh chống lại âm mưu lợi dụng, cái gọi là quyền dân tộc tự quyết của các thế lực thù địch để chống phá Việt Nam.