Y tá cho bệnh nhân dùng chung bơm kim tiêm với người bị nhiễm HIV thì bị tội gì?

Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900.6162

1. Khái quát chung

Có thể hiểu, tội cố ý truyền HIV cho người khác là hành vi của người tuy không bị nhiễm HIV, nhưng cố ý dùng các hình thức, thủ đoạn để truyền HIV từ người này sang người khác..
Đặc điểm của phạm tội này, người phạm tội không bị nhiễm HIV nhưng đã cố ý để truyền HIV cho người khác (nếu người đã bị nhiễm HIV mà cố ý truyền cho người khác thì cấu thành tội lây truyền HIV cho người khác).Căn bệnh HIV được truyền bằng ba con đường chính:Truyền từ mẹ sang con khi mang thai;Truyền bằng đường máu như truyền máu trong bệnh viện, tiêm chích ma túy;Truyền bằng đường quan hệ tình dục.
Người phạm tội có thể thực hiện hành vi truyền HIV cho người khác bằng nhiều phương thức khác nhau như: dùng kim tiêm chọc vào người bị nhiễm bệnh rồi chọc vào người khác; dùng dao, mảnh chai rạch tay, chân người bị nhiễm bệnh cho máu dính vào rồi rạch vào người khác; đem máu của người bị nhiễm HIV cho người khác.Ví dụ: Y tá tiêm thuốc cho bệnh nhân và cố ý truyền HIV cho bệnh nhân.

2. Tội cố ý truyền HIV cho người khác được quy định như thế nào?

Tội cố ý truyền HIV cho người khác được quy định tại Điều 149 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017, cụ thể như sau:

Điều 149. Tội cố ý truyền HIV cho người khác
1. Người nào cố ý truyền HIV cho người khác, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 148 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Có tổ chức;
b) Đoi với người đang thi hành công vụ hoặc vĩ lý do công vụ của nạn nhân;
c) Đổi với người dưới 18 tuổi;
d) Đổi với từ 02 người đến 05 người;
đ) Lợi dụng nghề nghiệp;
e) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Đối với phụ nữ mà biết là có thai;
b) Đổi với 06 người trở lên;
c) Gây roi loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
d) Làm nạn nhân tự sát.
4. Người phạm tội còn có thể bị cẩm đảm nhiệm chức vụ, cẩm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đen 05 năm.

3. Bình luận

Điều luật gồm 4 khoản. Trong đó, khoản 1 quy định dấu hiệu pháp lý và khung hình phạt cơ bản của tội cố ý truyền HIV cho người khác; các khoản 2 và 3 quy định các trường hợp phạm tội tăng nặng và khoản 4 quy định khung hình phạt bổ sung.

3.1 Dấu hiệu chủ thế của tội phạm

Chủ thể của tội cố ý truyền HIV cho người khác được quy định là chủ thể bình thường và theo Điều 12 BLHS là người từ đủ 16 tuổi trở lên vì tội này không thuộc các tội mà tuổi chịu trách nhiệm hình sự có thể từ đủ 14 tuổi trở lên được liệt kê tại khoản 2 Điều 12 BLHS.

3.2 Dấu hiệu hành vi khách quan của tội phạm

Hành vi khách quan của tội cố ý truyền HIV cho người khác được quy định là hành vi truyền HIV cho người khác. Trong đó, hành vi truyền HIV được hiểu là hành vi đưa HIV từ ngoài vào cơ thể người khác bằng cách thức bất kỳ. Xét về tính chất, hành vi truyền HIV ở tội phạm này (Điều 149 BLHS) và hành vi lây truyền HIV ở tội lây truyền HIV cho người khác (Điều 148 BLHS) đều có thể làm cho người khác bị nhiễm HIV. Xét về dấu hiệu pháp lý, 02 hành vi phạm tội này có sự khác nhau. Hành vi phạm tội được quy định tại Điều 148 là hành vi (cố ý) lây truyền HIV cho người khác và để có thể thực hiện được hành vi này chủ thể được quy định phải là người bị nhiễm HIV. Trong khi đó, hành vi phạm tội được quy định tại Điều 149 là hành vi (cố ý) truyền HIV cho người khác và chủ thể thực hiện không đòi hỏi có dấu hiệu như chủ thể được quy định tại Điều 148. Các dấu hiệu của 02 tội phạm này được quy định rõ ở cả 02 điều luật.
Tội phạm này hoàn toàn khi người phạm tội có hành vi cố ý truyền HIV cho người khác. Nói theo các khác, bị hại đã bị truyền HIV thì hành vi truyền HIV cho họ đã cấu thành tội tội phạm, không cần biết người bị hại có bị nhiễm HIV hay không. Trường hợp người bị hại không bị nhiễm HIV thì hành vi phạm tội được xác định là hoàn thành về hành vi nhưng chưa đạt về hậu quả. Do vậy, kết quả giám định pháp y để xác định bị hại có bị nhiễm HIV hay không, chỉ có ý nghĩa khi lượng hình chứ không phải là yếu tố cấu định tội danh như tội lấy truyền HIV cho người khác.Hành vi nên trên phải không thuộc trường hợp quy định tại Điều 148 (tội lây truyền HIV cho người khác).
Đây là hành vi của người không bị nhiễm HIV và vì một lý do nào đó mà người này cố ý truyền HIV cho người khác dưới các hình thức khác nhau: Ví dụ: y tá cố ý dùng bơm kim tiêm đã dùng tiêm cho ngừi nhiễm HIV lại tiếp tục dùng cho người khác với mục đích để người này nhiễm HIV hoặc do thù hằn cá nhân mà một người đã cho máu có nhiễm HIV cho vào bịch máu đang truyền cho bệnh nhân nhằm để người này bị nhiễm HIV…
Tội phạm hoàn thành khi có hành vi cố ý truyền HIV cho người khác, hậu quả nạn nhân có bị nhiễm HIV hay không, không là dấu hiệu bắt buộc.

3.3 Khách thể:

Hành vi nêu trên xâm phạm đến sức khoẻ của người khác.

3.4 Dấu hiệu lỗi của chủ thể

Lỗi của chủ thể được quy định là lỗi cố ý. Người phạm tội biết hành vi của mình có thể làm cho nạn nhân bị nhiễm HIV nhưng vì mong muốn hoặc vì chấp nhận hậu quả này nên đã thực hiện.
Khoản 1 của điều luật quy định khung hình phạt cơ bản có mức phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.
Khoản 2 của điều luật quy định khung hình phạt tăng nặng thứ nhất có mức phạt tù từ 07 năm đến 15 năm được áp dụng cho trường họp phạm tội có một trong các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng sau:
- Có tổ chức: Đây là trường họp đồng phạm truyền HIV cho người khác mà trong đó có sự câu kết chặt chẽ giữa những người đồng phạm.
- Đổi với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân: Đây là trường hợp nạn nhân của hành vi cố ý truyền HIV là người liên quan đến công vụ. Họ có thể bị người phạm tội thực hiện hành vi cố ý truyền HIV khi đang thi hành công vụ. Họ cũng có thể bị người phạm tội thực hiện hành vi cố ý truyền HIV trước khi hoặc sau khi thi hành công vụ. Động cơ của hành vi cố ý truyền HIV có thể để răn đe, cản trở không cho nạn nhân thi hành công vụ hoặc để trả thù việc nạn nhân đã thi hành công vụ. Công vụ ở đây được hiểu “... là hoạt động theo đúng pháp luật của chủ thể được cơ quan nhà nước giao nhằm thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước bao gồm quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án.”
- Đối với người dưới 18 tuổi: Đây là trường họp nạn nhân của hành vi cố ý truyền HIV là người dưới 18 tuổi.
- Đối với từ 02 người đến 05 người: Đây là trường hợp có nhiều nạn nhân (từ 2 đến 5) và họ có thể trở thành nạn nhân trong cùng một lần hoặc ở các lần khác nhau.
- Lợi dụng nghề nghiệp: Đây là trường hợp khi thực hiện hành vi cố ý truyền HIV, chủ thể thực hiện đã lợi dụng nghề nghiệp của mình. Nhờ nghề nghiệp mà họ có thể thực hiện hoặc thực hiện được dễ dàng hon hành vi truyền HIV cho nạn nhân.
- Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhãn mà tỷ lệ tốn thương cơ thể từ 31% đến 60%): Đây là trường họp tăng nặng trách nhiệm hình sự vì việc bị truyền HIV đã ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến sức khỏe tâm thần của nạn nhân và như vậy có nghĩa hành vi phạm tội còn xâm phạm rất nghiêm trọng sức khỏe của nạn nhân.
Khoản 3 của điều luật quy định khung hình phạt tăng nặng thứ hai là phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân được áp dụng cho trường hợp phạm tội có một trong các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng sau:
- Đổi với phụ nữ mà biết là có thai: Đây là trường hợp nạn nhân là người có thai và chủ thể biết nạn nhân mà mình thực hiện hành vi truyền HIV là có thai.
- Đối với 06 người trở lên: Đây là trường hợp có nhiều nạn nhân (từ 06 trở lên).
- Gây rối loạn tăm thần và hành vỉ của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên: Đây là trường hợp tăng nặng trách nhiệm hình sự vì việc bị truyền HIV đã ảnh hưởng đặc biệt nghiêm trọng đến sức khỏe tâm thần của nạn nhân và như vậy có nghĩa hành vi phạm tội còn xâm phạm đặc biệt nghiêm trọhg sức khỏe của nạn nhân.
- Làm nạn nhân tự sát: Đây là trường hợp nạn nhân đã tự sát mà nguyên nhân dẫn đến tự sát là do bị truyền HIV. Giữa việc bị truyền HIV và việc tự sát có QHNQ với nhau.
Khoản 4 của điều luật quy định khung hình phạt bổ sung (có thể được áp dụng) là: cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Như đã bình luận trên, dấu hiệu hành vi phạm tội cũng như dấu hiệu chủ thể được quy định tại Điều 148 và Điều 149 có sự khác nhau rất rõ ràng. Không thể có trường hợp “cố ý truyền HIV cho người khác” (Điều 149) lại có thể thuộc trường hợp quy định tại Điều 148 là trường hợp “lây truyền” vì “truyền” và “lây truyền” hoàn toàn khác nhau. Do vậy, nội dung “... nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 148 của Bộ luật này...” trong Điều 149 BLHS không những không cần thiết mà còn không hợp lý.
Trong đó trường hợp lợi dụng nghề nghiệp để truyền HIV cho người khác là tình tiết tăng nặng do người có nghề nghiệp dễ thực hiện tội phạm, mức độ gây ra cho xã hội có thể nhiều người…đồng thời cũng gây khó khăn cho việc điều tra, phát hiện nên cần thiết phải xữ lý nghiêm khắc. Ví dụ y tá, bác sỹ…
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê