1. Quy định về đặc điểm dịch tễ của Bệnh lao bò ra sao?
Theo Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 8400-10:2022, việc quy định đặc điểm dịch tễ của bệnh lao bò đã được trình bày như sau:
- Bệnh lao bò là một căn bệnh do vi khuẩn M. bovis gây ra, đặc trưng bởi sự lây lan rộng rãi trong cả gia súc.
- Sự tiếp xúc với các gia súc mắc bệnh hoặc vùng có dịch lao có thể khiến cho gia súc khác bị nhiễm bệnh này.
- Đặc điểm đáng chú ý là gia súc non thường dễ mắc bệnh hơn so với gia súc trưởng thành, vì khả năng miễn dịch của chúng chưa được phát triển hoàn chỉnh.
- Phương thức lây truyền chủ yếu của bệnh lao là qua đường hô hấp, thông qua việc hít phải những giọt phun ra từ đường hô hấp của các gia súc nhiễm bệnh hoặc thông qua hắt hơi. Ngoài ra, cũng có khả năng lây từ đường tiêu hóa thông qua sữa bò bị nhiễm M. bovis.
2. Triệu chứng lâm sàng của Bệnh lao bò như thế nào?
Theo quy định của tiểu mục 6.2 trong Mục 6 của Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 8400-10:2022, các triệu chứng lâm sàng của bệnh lao bò được mô tả như sau:
- Thời gian ủ bệnh thường kéo dài từ 2 đến 4 tuần, tuy nhiên cũng có thể kéo dài hơn tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể.
- Gia súc mắc bệnh thường thể hiện những dấu hiệu rõ ràng như sự gầy guộc, yếu đuối, lông đứng dựng, da khô và thường xuyên có sốt nhẹ.
- Triệu chứng cụ thể của bệnh có thể thay đổi tùy theo vị trí phân bố của các hạt lao trong cơ thể. Có thể gây ra sự đa dạng trong biểu hiện lâm sàng của bệnh.
- Khi các hạt lao tập trung ở phổi, triệu chứng thường bao gồm ho khan, ho một cách cục bộ và tăng cường khi thời tiết thay đổi. Đây là dấu hiệu quan trọng cho sự tác động của bệnh lên hệ hô hấp.
- Khi các hạt lao tập trung ở hạch, bạn có thể nhận thấy các hạch bạch huyết bị sưng to, cứng và khi chạm vào có thể cảm nhận được sự lồi lõm, đặc biệt là ở các vùng hạch nằm phía trước của vai, đùi và dưới hàm. Cung cấp thông tin về sự lan truyền của bệnh qua hệ thống bạch huyết.
- Khi các hạt lao tập trung ở ruột, gia súc thường trải qua các vấn đề về tiêu hóa như ỉa chảy, phân có dạng khẳm hoặc luân phiên giữa ỉa chảy và táo bón. Sự biến đổi này trong tình trạng ruột cũng là dấu hiệu của sự ảnh hưởng của bệnh lên hệ tiêu hóa của gia súc.
- Gia súc khi mắc bệnh thường trải qua một quá trình gầy rụt dần và dần mất đi sức khỏe, đặc biệt là ở giai đoạn cuối của bệnh. Tình trạng suy nhược nghiêm trọng có thể đẩy gia súc đến bờ vực tử vong, là kết quả của sự suy yếu toàn diện của cơ thể do ảnh hưởng của bệnh. Thể hiện sự nghiêm trọng của tình trạng sức khỏe của gia súc và đòi hỏi sự can thiệp và điều trị kịp thời để ngăn chặn tình trạng tiến triển của bệnh.
3. Quy định về bệnh tích của Bệnh lao bò hiện nay
Theo tiểu mục 6.3 của Mục 6 trong Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 8400-10:2022, các điều quy định về bệnh tích như sau:
- Bệnh tích là biểu hiện đặc trưng của sự nhiễm lao, thường được nhận biết qua sự hiện diện của các hạt lao trong cơ thể gia súc. Những hạt lao này có thể xuất hiện ở nhiều cơ quan khác nhau như màng treo ruột, ruột, màng phổi, màng bụng, vú,... tuy nhiên, thường gặp nhất là ở hạch phổi, hạch vùng đầu và các hạch bạch huyết trong xoang ngực.
- Các hạt lao thường có màu vàng hoặc màu trắng đục, có thể có dạng bã đậu, hạt xơ hoặc bị canxi hóa thành những khối tăng sinh trên thượng bì. Đặc biệt, trên cùng một cơ quan, có thể quan sát được nhiều dạng khác nhau của hạt lao.
- Khi phát hiện nhiều hạt lao trong phổi, việc nắn các thuỳ phổi có thể tạo ra cảm giác như đang nắn phổi có cát, và có thể nghe thấy tiếng kêu lạo xạo. Đây là một chỉ báo quan trọng giúp xác định mức độ nghiêm trọng của sự nhiễm lao trong cơ thể gia súc.
4. Cách chẩn đoán ngoài thực địa - Phản ứng dò lao của Bệnh lao bò
Theo quy định tại Mục 6 Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 8400-10:2022 thì cách chẩn đoán ngoài thực địa - Phản ứng dò lao của Bệnh lao bò như sau:
* Cách tiêm: Khi lựa chọn phương pháp tiêm, có hai lựa chọn sau đây để xem xét:
- Tiêm 1 mũi: Lựa chọn vị trí tiêm là da cổ hoặc giữa mặt trong của nếp gấp da đuôi của bò (lưu ý tránh các vùng da bị tổn thương). Đầu tiên, đánh dấu vị trí tiêm, sau đó cắt sạch lông và sử dụng thước đo độ dày da. Sau đó, tiêm tối thiểu 2000 IU tuberculin PPD bò hoặc PPD gà vào vị trí đã đánh dấu, với liều lượng tiêm tối đa là 0,2 ml.
- Tiêm 2 mũi: Lựa chọn hai vị trí tiêm khác nhau trên cùng một bên cổ của gia súc, với khoảng cách giữa hai vị trí là từ 12 đến 15 cm. Đối với gia súc non, nên tiêm ở hai bên cổ (tránh các vùng da bị tổn thương). Cũng như trên, đầu tiên, đánh dấu vị trí tiêm, sau đó cắt sạch lông và sử dụng thước đo độ dày da. Tiếp theo, tiêm tối thiểu 2000 IU tuberculin PPD bò hoặc PPD gà vào vị trí đã đánh dấu, với liều lượng tiêm tối đa là 0,2 ml.
* Đọc kết quả: Khi đã tiêm mũi thuốc vào vùng da cổ của gia súc, việc đánh giá kết quả được thực hiện sau 72 giờ. Quá trình này bao gồm việc đo độ dày của nếp gấp da và đánh giá kết quả như sau:
- Sau 72 giờ, đánh giá kết quả bằng cách đo độ dày của nếp gấp da tại vị trí tiêm. Đối với vùng da cổ, quá trình này đòi hỏi sự chú ý và cẩn trọng để đảm bảo đo lường chính xác. Kết quả được đánh giá dựa trên sự thay đổi về độ dày của da sau khi tiêm thuốc. Các biểu hiện như sưng tấy, đỏ và nổi mụn có thể là dấu hiệu của phản ứng dương tính. Sự phát hiện của các biểu hiện này sẽ hướng dẫn quyết định về tình trạng nhiễm lao của gia súc và các biện pháp tiếp theo cần được thực hiện một cách cẩn thận và chuyên nghiệp.
- Kết quả đánh giá được tổng hợp như sau:
+ Nếu độ sưng da trước và sau khi tiêm không vượt quá 2 mm và không có bất kỳ dấu hiệu lâm sàng nào xuất hiện ở gia súc, kết quả được xem là âm tính.
+ Trong trường hợp độ sưng da trước và sau khi tiêm nằm trong khoảng từ 2 mm đến dưới 4 mm, và không có bất kỳ dấu hiệu lâm sàng nào được quan sát thấy, sự nghi ngờ về kết quả sẽ được xem xét.
+ Nếu độ sưng da trước và sau khi tiêm nằm trong khoảng từ 2 mm đến dưới 4 mm, và có dấu hiệu lâm sàng được phát hiện ở gia súc, kết quả sẽ được xác định là dương tính.
+ Nếu độ sưng da trước và sau khi tiêm bằng hoặc lớn hơn 4 mm, kết quả sẽ được xác định là dương tính, đây là một dấu hiệu rõ ràng về việc nhiễm bệnh.
Chú ý: Đối với các gia súc mà kết quả ban đầu là nghi ngờ, sau 42 ngày cần tiến hành phản ứng kiểm tra một lần nữa. Nếu sau lần kiểm tra này vẫn thu được kết quả nghi ngờ hoặc dương tính, thì cần tiến hành kiểm tra lại bằng phản ứng tiêm nội bì hai mũi tuberculin PPD bò và tuberculin PPD gà. Đảm bảo sự đánh giá chính xác và toàn diện về tình trạng nhiễm lao của gia súc, từ đó đưa ra các biện pháp can thiệp và điều trị phù hợp.
- Khi đọc kết quả sau khi tiêm một mũi ở nếp gấp da đuôi, các kết quả được mô tả như sau:
+ Phản ứng dương tính được xác định khi độ sưng da tại vị trí tiêm, trừ đi độ dày của da không tiêm, bằng hoặc lớn hơn 4 mm.
+ Phản ứng âm tính được xác định khi độ sưng da tại vị trí tiêm, trừ đi độ dày của da không tiêm, nhỏ hơn 2 mm.
+ Phản ứng nghi ngờ được xác định khi độ sưng da tại vị trí tiêm, trừ đi độ dày của da không tiêm, nằm trong khoảng từ 2 mm đến dưới 4 mm.
- Khi đọc kết quả sau khi tiêm hai mũi tuberculin PPD, các kết quả được phân tích như sau:
+ Kết quả dương tính được xác định khi độ sưng da tại vị trí tiêm tuberculin PPD bò lớn hơn độ sưng da tại vị trí tiêm tuberculin PPD gà, và chênh lệch giữa hai độ sưng lớn hơn 4 mm.
+ Kết quả nghi ngờ được xác định khi độ sưng da tại vị trí tiêm tuberculin PPD bò lớn hơn độ sưng da tại vị trí tiêm tuberculin PPD gà, và chênh lệch giữa hai độ sưng nằm trong khoảng từ 2 mm đến 4 mm.
+ Kết quả âm tính được xác định khi độ sưng da tại vị trí tiêm tuberculin PPD bò bằng hoặc nhỏ hơn độ sưng da tại vị trí tiêm tuberculin PPD gà.
5. Lấy mẫu, bảo quản và vận chuyển mẫu bệnh phẩm của Bệnh lao bò
Theo quy định trong tiểu mục 6.5 của Mục 6 trong Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 8400-10:2022, các quy định về việc lấy mẫu, bảo quản và vận chuyển mẫu bệnh phẩm được mô tả như sau:
* Lấy mẫu: Bệnh phẩm có thể là đờm, mẫu mô nghi ngờ chứa hạt lao, hoặc mẫu máu có chất chống đông.
- Khi lấy mẫu đờm: Sử dụng tăm bông để kích thích vòm họng của gia súc, kích động để gia súc ho mạnh, từ đó đẩy ra đờm để gắp lấy bằng tăm bông. Đặt đồng thời đoạn tăm bông vào ống chứa môi trường bảo quản mẫu (xem B.7 TCVN 8400-10:2022).
- Khi lấy mẫu từ các mô nghi ngờ (như phổi, gan, lách,...): Lấy mẫu với lượng từ 50 g đến 200 g và đặt vào hộp chứa mẫu.
- Khi lấy mẫu máu: Trước tiên, sát trùng vùng định lấy mẫu (tai, cổ, đuôi) bằng bông cồn 70%. Sử dụng bơm tiêm để lấy khoảng 5 ml đến 10 ml máu. Chuyển 5 ml mẫu máu vào ống chứa chất chống đông, sau đó trộn đều bằng cách lắc nhẹ ống đảo ngược khoảng 10 lần.
* Bảo quản mẫu: Để đảm bảo chất lượng mẫu bệnh phẩm, các quy định về bảo quản như sau:
- Mẫu bệnh phẩm được đặt trong dụng cụ chứa mẫu với môi trường bảo quản phù hợp, sau đó đóng kín và dán nhãn rõ ràng ghi tên bệnh phẩm.
- Dụng cụ chứa mẫu bệnh phải được bảo quản trong điều kiện lạnh, nhiệt độ từ 2 °C đến 8 °C, để đảm bảo mẫu không bị biến đổi và duy trì tính ổn định của chất lượng.
- Tất cả các mẫu bệnh phải đi kèm với giấy yêu cầu xét nghiệm, cần ghi rõ bệnh sử, triệu chứng, bệnh tích và đặc điểm dịch tễ của gia súc. Giúp cung cấp thông tin đầy đủ và chi tiết cho quá trình xét nghiệm và đánh giá.
* Đóng gói và vận chuyển mẫu: Để đảm bảo an toàn và tính chất sinh học của mẫu bệnh phẩm trong quá trình vận chuyển đến phòng xét nghiệm, các biện pháp đóng gói và vận chuyển được thực hiện như sau:
- Lớp thứ nhất (lớp chứa mẫu bệnh phẩm): Sử dụng hộp nhựa cứng có nắp xoáy, đảm bảo không rò rỉ, không thấm nước và không dễ vỡ. Hộp này cần được đóng kín và dán nhãn rõ ràng bên ngoài (bao gồm loại mẫu, ngày lấy mẫu, tên chủ gia súc, nơi lấy mẫu,...). Bao bọc lớp thứ nhất bằng vật liệu thấm hút (như bông, giấy thấm, v.v.) và đặt vào lớp thứ hai. Nếu có nhiều ống chứa mẫu, mỗi ống cần được bao bọc riêng biệt để tránh tiếp xúc và có một lớp vật liệu thấm hút bên ngoài để bảo vệ.
- Lớp thứ 2: Chức năng chính của lớp này là bảo vệ lớp thứ nhất. Có thể sử dụng hộp nhựa hoặc túi nylon để đảm bảo không rò rỉ, không thấm nước và không dễ vỡ. Lớp này cần được đóng kín và dán nhãn rõ ràng ghi thông tin về mẫu bên ngoài (bao gồm loại mẫu, ngày lấy mẫu, tên chủ gia súc, nơi lấy mẫu,...). Đồng thời, cần có lớp vật liệu thấm hút đặt giữa lớp thứ nhất và thứ hai để ngăn chặn rò rỉ mẫu.
- Lớp thứ 3 (lớp bên ngoài): Lớp này bao quanh lớp thứ hai và có thể là thùng bảo ôn hoặc hộp xốp, đảm bảo độ cứng và tránh bục vỡ mẫu trong quá trình vận chuyển.
Chú thích: Trong quá trình đóng gói và vận chuyển, có thể sử dụng đá chuyên dụng để duy trì nhiệt độ bảo quản. Đá được đặt giữa lớp thứ nhất và thứ hai hoặc giữa lớp thứ hai và thứ ba để đảm bảo mẫu được bảo quản một cách hiệu quả.
Ngoài ra, có thể tham khảo: Bị bệnh lao nhưng đã điều trị xong thì có được miễn nghĩa vụ quân sự? Có được nghỉ phép khi nhập ngũ. Còn khúc mắc, liên hệ 1900.6162 hoặc gửi email tới: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ. Xin cảm ơn.