1. Hiểu như thế nào về văn bản công chứng?

Hiện nay, theo quy định tại khoản 4 Điều 2 Luật công chứng 2015 có quy định văn bản công chứng là hợp đồng, giao dịch, bản dịch đã được công chứng viên chứng nhận theo quy định của Luật công chứng.

 Theo đó, văn bản công chứng được hiểu là tất cả các hợp đồng, giao dịch, bản dịch đã được công chứng viên chứng nhận. Văn bản công chứng có giá trị pháp lý trên thực tế kể từ ngày văn bản công chứng được công chứng viên ký và đóng dấu của tổ chức hành nghề công chứng. Theo quy định của pháp luật hiện nay, bản chính văn bản công chứng và các giấy tờ khác trong hồ sơ công chứng phải được lưu trữ ít nhất là 20 năm tại trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng; trường hợp lưu trữ ngoài trụ sợ thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của Sở Tư pháp. Văn bản công chứng có giá trị chứng cứ và theo quy định của pháp luật những tình tiết, sự kiện trong hợp đồng, giao dịch công chứng không phải chứng minh, trừ trường hợp bị Tòa án tuyên bố là vô hiệu.

 

2.Quy định của pháp luật về các trường hợp văn bản công chứng bị tuyên vô hiệu

Theo quy định của Điều 117 Bộ luật dân sự 2015 có quy định cụ thể về các điều kiện để giao dịch dân sự có hiệu lực pháp luật và khi giao dịch dân sự không đáp ứng được đầy đủ các điều kiện quy định tại Điều 117 Bộ luật dân sự 2015 thì có căn cứ để tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu. Ngoài ra theo quy định tại Điều 52 Luật công chứng 2014 thì, văn bản công chứng có thể bị tuyên vô hiệu khi có căn cứ cho rằng việc công chứng có vi phạm pháp luật, cụ thể, các trường hợp văn bản công chứng bị tuyên vô hiệu bao gồm:

-  Chủ thể không có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập. Theo quy định về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự bắt buộc người tham gia giao dịch dân sự phải có đầy đủ năng lực hành vi dân sự hoặc trong một số trường hợp khác theo quy định của pháp luật mà phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập. Như vậy, đối với trường hợp một trong các bên chủ thể trong giao dịch dân sự không có năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch thì văn bản công chứng bị tuyên vô hiệu.

- Trường hợp chủ thể tham gia giao dịch dân sự bị cưỡng ép, không tự nguyện tham gia giao dịch dân sự. Theo quy định tại Điều 117 Bộ luật dân sự 2015 quy định, một giao dịch dân sự được coi là có hiệu lực khi đáp ứng được điều kiện về sự tự nguyện của các bên khi tham gia vào giao dịch dân sự. Do đó, nếu một văn bản công chứng mà một trong các bên không tự nguyện theo gia vào giao dịch dân sự đó thì, văn bản công chứng đó bị tuyên vô hiệu.

- Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Pháp luật quy định các nội dung trong giao dịch dân sự không được trái với quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Do đó, nếu các thỏa thuận trong văn bản công chứng vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội thì văn bản công chứng đó bị tuyên vô hiệu.

- Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định. Và trong trường hợp pháp luật có quy định về hình thức của giao dịch dân sự mà các bên không đáp ứng được đúng quy định của pháp luật thì giao dịch đó có thể bị tuyên vô hiệu

- Các văn bản có thể bị công chứng khi việc công chứng có vi phạm pháp luật theo quy định tại Điều 52 Luật công chứng 2014 cụ thể: người yêu cầu công chứng không tự nguyện yêu cầu công chứng; người làm chứng không đủ điều kiện theo quy định của Luật công chứng; cá nhân, tổ chức không đủ điều kiện hành nghề công chứng nhưng đã công chứng tại văn bản công chứng, giả mạo người yêu cầu công chứng; người yêu cầu công chứng cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật; sử dụng giấy tờ, văn bản giả mạo hoặc bị tẩy xóa, sửa chữa trái phép để yêu cầu công chứng; người làm chứng, người phiên dịch có hành vi gian dối, không trung thực.

- Ngoài ra, trường hợp giao dịch dân sự giả tạo cũng sẽ bị tuyên là giao dịch vô hiệu. Giao dịch giả tạo là giao dịch dân sự được các bên xác lập một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch dân sự giả tạo vô hiệu, còng giao dịch dân sự bọ che dấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật dân sự 2015 hoặc luật khác có liên quan. (Căn cứ Điều 124 Bộ luật dân sự 2015).

 

3. Ai có quyền đề nghị Tòa án tuyên văn bản công chứng vô hiệu?

Hiện nay, pháp luật đã quy định một cách khá cụ thể và chi tiết về quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu. Cụ thể, theo quy định tại Điều 52 Luật công chứng 2014 có quy định người có quyền đề nghị Tòa án tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu là "Công chứng viên, người yêu cầu công chứng, người làm chứng, người phiên dịch, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cơ quan nhà nước có thẩm quyền đề nghị Tòa án tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu khi có căn cứ cho rằng việc công chứng vi phạm pháp luật."

Từ quy định trên, có thể thấy pháp luật quy định các đối tượng có quyền đề nghị Tòa án tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu là rất rộng bao gồm công chứng viên, người yêu cầu công chứng, người làm chứng, người phiên dịch, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cơ quan nhà nước có thẩm quyền đề nghị Tòa án tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu. Việc pháp luật quy định người có quyền đề nghị Tòa án tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu rất rộng bao gồm cả những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Điều này nhằm đảm bảo việc quản lý của cơ quan nhà nước và đảm bảo bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của những người có liên quan đến văn bản công chứng bị đề nghị tuyên vô hiệu khi có các căn cứ theo quy định của pháp luật.

Việc tuyên một văn bản công chứng vô hiệu là vô cùng phức tạp đòi hỏi phải có chứng cứ rõ ràng chứng minh việc công chứng có vi phạm của pháp luật. Bởi văn bản công chứng là một nguồn chứng cứ quan trọng và theo quy định của pháp luật hiện hành thì các tình tiết, sự kiện trong văn bản công chứng không phải chứng mình trừ trường hợp bị Tòa án tuyên vô hiệu.

Vấn đề giao dịch dân sự vô hiệu nói chung và các trường hợp văn bản công chứng bị tuyên vô hiệu nói riêng là tương đối phức tạp, mặc dù pháp luật đã có quy định khá chặt chẽ về vấn đề này, tuy nhiên việc đưa ra được các chứng cứ chứng minh việc văn bản công chứng có vi phạm pháp luật trên thực tế là không hề đơn giản. Để có thể hiểu rõ hơn về các vấn đề pháp lý có liên quan đến nội dung văn bản công chứng theo quy định của pháp luật hiện hành, có thể tham khảo bài viết: Các văn bản bắt buộc phải công chứng, chứng thực hiện nay.

Trên thực tế, rất nhiều các giao dịch dân sự mà pháp luật quy định điều kiện về hình thức để giao dịch có hiệu lực trong đó có các giao dịch bắt buộc hình thức thể hiện phải bằng văn bản và được công chứng như hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất,...... và trong nhiều trường hợp mặc dù luật không bắt buộc hình thức của giao dịch phải được thể hiện bằng văn bản và có công chứng nhưng các bên trong giao dịch vẫn thực hiện việc công chứng các hợp đồng, giao dịch dân sự và các giấy tờ khác. Bởi như đã phân tích ở trên, các văn bản công chứng thường có giá trị chứng cứ, những tình tiết, sự kiện trong hợp đồng, giao dịch được công chứng không phải chứng minh, trừ trường hợp bị Tòa án tuyên bố vô hiệu.

Mọi vấn đề thắc mắc liên hệ19006162 hoặc email lienhe@luatminhkhue.vn để được giải đáp chi tiết. Trân trọng!