Thưa luật sư, xi hỏi: "Tôi là nhân viên công ty làm về phần mềm, tôi được công ty giao lập một phần mềm quản trị. Vậy xin hỏi luật sư ai mới là chủ sở hữu của phần mềm đó, là tôi hay là công ty. Mong luật sư giải đáp giúp tôi. Xin cảm ơn." Người hỏi: Trần Minh Tài (Nam Định)
Luật sư tư vấn:
1. Căn cứ pháp lý quy định chủ sở hữu phần mềm
- Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009 và năm 2022);
- Nghị định 22/2018/NĐ-CP ngày 23 tháng 02 năm 2019 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ năm 2009 về quyền tác giả, quyền liên quan.
2. Chương trình máy tính và phần mềm máy tính
Theo Hiệp ước quyền tác giả WIPO năm 1996 với các tuyên bố đã được thông qua của Hội nghị ngoại giao thông qua Hiệp ước và các quy định của Công ước Berne (1971) dẫn chiếu trong hiệp ước: "Chương trình máy tính được bảo hộ như là tác phẩm văn học theo nghĩa của Điều 2 Công ước Berne. Sự bảo hộ này áp dụng cho các chương trình máy tính, bất kể chúng được thể hiện dưới hình thức hoặc phương thức nào".
Tại khoản 1 Điều 22 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 1 Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2022): Chương trình máy tính là tập hợp các chỉ dẫn được thể hiện dưới dạng lệnh, mã, lược đồ hoặc dạng khác, khi gắn vào một phương tiện, thiết bị thực hiện được công việc hoặc đạt được kết quả cụ thể. Chương trình máy tính được bảo hộ như tác phẩm văn học, dù được thể hiện dưới dạng mã nguồn hay mã máy.
Tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả đối với chương trình máy tính có quyền thỏa thuận bằng văn bản với nhau về việc sửa chữa, nâng cấp chương trình máy tính.
Chương trình máy tính được bảo hộ như tác phẩm văn học do khi bảo hộ dưới dạng tác phẩm thì hạn chế sự sao chép bất hợp pháp chương trình máy tính. Nhưng việc bảo hộ này không bảo hộ ý tưởng của chương trình máy tính nên người sử dụng chương trình máy tính tiến hành các phân tích ngược để giải mã để tìm ra nguyên lý hoạt động, cấu trúc chương trình máy tính. Người tiến hành phân tích ngược thành công là chủ sở hữu của chương trình máy tính mới.
Có thể thấy, khoản 1 Điều 22 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 và khoản 1 Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2022 đã có những sự thay đổi phù hợp hơn. Cụ thể, tại khoản 1 Điều 22 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 thì chương trình máy tính là tập hợp những chỉ dẫn thể hiện dưới các lệnh, các mã, lược đồ hoặc bất kỳ dạng nào khác, khi gắn vào một phương tiện mà máy tính đọc được; điều này giới hạn việc chương trình máy tính chỉ sử dụng cho máy tính đọc. Và khoản 1 Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2022 đã mở rộng khi gắn vào một phương tiện, thiết bị được vận hành bằng ngôn ngữ lập trình máy tính có khả năng làm cho máy tính hoặc thiết bị thực hiện công việc hoặc đạt được kết quả.
Căn cứ vào khoản 12 Điều 4 Luật Công nghệ thông tin năm 2006: Phần mềm là chương trình máy tính được mô tả bằng hệ thống ký hiệu, mã hoặc ngôn ngữ điều khiển thiết bị số thực hiện chức năng nhất định.
Từ khái niệm "chương trình máy tính" và "phần mềm" là hai khái niệm pháp lý khác nhau. "Phần mềm" có nội hàm rộng hơn so với "chương trình máy tính", tức là phần mềm bao gồm cả chương trình máy tính.
3. Ai là chủ sở hữu phần mềm công nghệ thông tin?
Theo quy định tại Điều 39 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009 và 2022), chủ sở hữu quyền tác giả là tổ chức, cá nhân giao nhiệm vụ cho tác giả hoặc giao kết hợp đồng với tác giả:
+ Tổ chức giao nhiệm vụ sáng tạo tác phẩm cho tác giả là người thuộc tổ chức mình là chủ sở hữu các quyền tài sản (như: làm tác phẩm phái sinh; biểu diễn tác phẩm trước công chúng trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các bản ghi âm, ghi hình hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào tại địa điểm mà công chúng có thể tiếp cận được nhưng công chúng không thể tự do lựa chọn thời gian và từng phần tác phẩm; sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp toàn bộ hoặc một phần tác phẩm bằng bất kỳ phương tiên hay hình thức nào;...) và công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm.
+ Tổ chức, cá nhân giao kết hợp đồng với tác giả sáng tạo ra tác phẩm là chủ sở hữu các quyền tài sản được quy định tại Điều 20 và khoản 3 Điều 19 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2022)
Hay theo quy định tạo Điều 17 Nghị định 22/2018/NĐ-CP quy định về quyền tác giả đối với chương trình máy tính như sau:
+ Tác giả được hưởng các quyền nhân thân (gồm: (1) quyền đặt tên cho tác phẩm; (2) đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm, được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng; (3) công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm; (4) bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả) và các quyền tài sản (gồm: (1) quyền làm tác phẩm phái sinh; (2) biểu diễn tác phẩm trước công chúng trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các bản ghi âm, ghi hình hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào tại địa điểm mà công chúng có thể tiếp cận được nhưng công chúng không thể tự do lựa chọn thời gian và từng phần tác phẩm; (3) sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp toàn bộ hoặc một phần tác phẩm bằng bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào; (4) phân phối, nhập khẩu để phân phối đến công chúng thông qua bán hoặc hình thức chuyển giao quyền sở hữu khác đối với bản gốc, bản sao tác phẩm dưới dạng hữu hình; (5) phát sóng, truyền đạt đến công chúng tác phẩm bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác; (6) cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính, trừ trường hợp chương trình máy tính đó không phải là đối tượng chính của việc cho thuê)
+ Tác giả không đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả được hưởng các quyền nhân thân (gồm: (1) quyền đặt tên cho tác phẩm; (2) đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm, được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng; (3) bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả);
Chủ sở hữu quyền tác giả được hưởng các quyền (gồm:
(1) Công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm;
(2) Làm tác phẩm phái sinh;
(3) Biểu diễn tác phẩm trước công chúng trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các bản ghi âm, ghi hình hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào tại địa điểm mà công chúng có thể tiếp cận được nhưng công chúng không thể tự do lựa chọn thời gian và từng phần tác phẩm;
(4) Phân phối, nhập khẩu để phân phối đến công chúng thông qua bán hoặc hình thức chuyển giao quyền sở hữu khác đối với bản gốc, bản sao tác phẩm dưới dạng hữu hình;
(5) Sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp toàn bộ hoặc một phần tác phẩm bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào;
(6) Phát sóng, truyền đạt đến công chúng tác phẩm bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác;
(7) Cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính...)
+ Tác giả và tổ chức, cá nhân đầu tư tài chính và cơ sở vật chất - kỹ thuật để sáng tạo chương trình máy tính có thể thỏa thuận về việc sửa chữa, nâng cấp chương trình máy tính.
+ Tổ chức, cá nhân có quyền sử dụng hợp pháp bản sao chương trình máy tính có thể làm một bản sao dự phòng, để thay thế khi bản sao đó bị mất, bị hư hỏng hoặc không thể sử dụng được.
Khi tổ chức, cá nhân có tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả bao gồm: người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm và chủ sở hữu quyền tác giả. Chủ sở hữu quyền tác giả là tổ chức, cá nhân nắm giữ một, một số hoặc toàn bộ quyền nhân thân (công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm) và các quyền tài sản.
Trường hợp tổ chức giao nhiệm vụ sáng tạo tác phẩm cho tác giả là người thuộc tổ chức mình là chủ sở hữu quyền nhân thân (công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm) và các quyền tài sản hoặc tổ chức, cá nhân giao kết hợp đồng với tác giả sáng tạo ra tác phẩm là chủ sở hữu quyền nhân thân (công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm) và các quyền tài sản (quy định tại Điều 39 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005).
Tóm lại, T là người làm ra phần mềm cho công ty nên T là tác giả, còn công ty là người giao kết hợp đồng, giao cho phần mềm. Như vậy, phần mềm thuộc sở hữu của công ty hay nói công ty của T là chủ sở hữu của phần mềm.
Nếu bạn đọc có bất kỳ vướng mắc nào liên quan đến vấn đề này hay vấn đề pháp lý khác thì vui lòng liên hệ tới tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến của Luật Minh Khuê, gọi ngay: 1900.6162 qua số tổng đài để được hỗ trợ kịp thời. Trong trường hợp bạn có nh cầu sử dụng dịch vụ đăng ký bản quyền, hãy gọi: 0986.386.648 gặp luật sư: Tô Thị Phương dung để được hỗ trợ miễn phí. Bạn cũng có thể nhận báo giá dịch vụ chi tiết nếu gửi yêu cầu cung cấp dịch vụ đăng ký bản quyền phần mềm qua email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin chân thành cảm ơn!.