- 1. Tổng quan về Quyền liên quan trong pháp luật Việt Nam
- 2. Hành vi xâm phạm quyền liên quan theo Luật Sở hữu trí tuệ mới nhất
- 2.1. Nhóm hành vi xâm phạm quyền cơ bản
- 2.2. Nhóm hành vi vi phạm nghĩa vụ và biện pháp công nghệ
- 2.3. Nhóm hành vi xâm phạm thông tin quản lý quyền
- 3. Nhóm hành vi xâm phạm tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa
- 4. Hành vi không thực hiện trách nhiệm của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian
- Kết luận
Sự phát triển của công nghệ số đã làm thay đổi căn bản phương thức sáng tạo, lưu trữ và phân phối các đối tượng của quyền liên quan (quyền của người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình và tổ chức phát sóng). Trong bối cảnh đó, các hành vi xâm phạm quyền ngày càng trở nên tinh vi, đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc hoàn thiện khung pháp lý. Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi, bổ sung năm 2025 đã đánh dấu bước tiến quan trọng với việc sửa đổi Điều 35, mở rộng phạm vi điều chỉnh đối với các hành vi xâm phạm trong môi trường kỹ thuật số, nội luật hóa các cam kết quốc tế từ CPTPP và EVFTA.
1. Tổng quan về Quyền liên quan trong pháp luật Việt Nam
Luật Sở hữu trí tuệ (SHTT) năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2019 và 2022 hiện hành đã trải qua nhiều lần sửa đổi nhằm đáp ứng thực tiễn, trong đó bản sửa đổi năm 2025 đặc biệt nhấn mạnh bảo hộ quyền liên quan trong môi trường số. Đáng chú ý, Điều 35 Luật Sở hữu trí tuệ trở thành trung tâm của khuôn khổ pháp lý dành cho quyền liên quan — cụ thể hóa các hành vi xâm phạm, không chỉ các hành vi truyền thống mà còn các hành vi sử dụng công nghệ cao như vô hiệu hóa biện pháp bảo vệ kỹ thuật hay can thiệp vào thông tin quản lý quyền.
Việc sửa đổi Điều 35 xuất phát từ quá trình hội nhập quốc tế — trong bối cảnh các hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam tham gia như CPTPP và EVFTA đặt ra các tiêu chuẩn cao về thực thi quyền sở hữu trí tuệ. Những tiêu chuẩn này yêu cầu pháp luật trong nước phải có quy định cụ thể để xử lý việc phá hoại biện pháp bảo vệ kỹ thuật và gỡ bỏ trái phép thông tin quản lý quyền, đồng thời thiết lập cơ chế miễn trách nhiệm cho các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian khi họ tuân thủ quy trình hợp tác bảo vệ quyền.
Trong phân tích pháp lý, các nội dung chính được chú trọng gồm: hệ thống lý luận về quyền liên quan (quyền của người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng); phân tích chi tiết các hành vi xâm phạm theo Điều 35; cơ chế trách nhiệm của doanh nghiệp trung gian; và hệ thống chế tài đối với hành vi vi phạm theo quy định pháp luật hiện hành. Quyền liên quan bảo hộ sự đầu tư, kỹ năng và công sức của các chủ thể trung gian — như người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi, hay đơn vị phát sóng — góp phần đưa tác phẩm đến công chúng. Nhờ đó, quyền liên quan cung cấp cơ chế bảo vệ bổ sung, bên cạnh quyền tác giả, nhằm đảm bảo rằng không chỉ tác phẩm gốc mà cả việc thực hiện, ghi âm, ghi hình, phát sóng hay biểu diễn cũng được pháp luật bảo vệ.
So với các quy định trước đây, Điều 35 hiện hành đã mở rộng phạm vi điều chỉnh một cách rõ rệt: ngoài các hành vi xâm phạm trực tiếp như sao chép, phát sóng, phân phối trái phép, luật mới còn bao gồm các hành vi gián tiếp hoặc “tiền đề” phạm tội — như sản xuất, buôn bán thiết bị để vô hiệu hóa biện pháp bảo vệ kỹ thuật, hoặc xóa bỏ/ thay đổi thông tin quản lý quyền (RMI). Quy định này phù hợp với bối cảnh phát triển công nghệ và nhu cầu bảo vệ quyền liên quan trong môi trường số.
2. Hành vi xâm phạm quyền liên quan theo Luật Sở hữu trí tuệ mới nhất
2.1. Nhóm hành vi xâm phạm quyền cơ bản
Khoản 1 Điều 35 LSHTT quy định: "Xâm phạm quyền của người biểu diễn quy định tại Điều 29 của Luật này"
Hành vi xâm phạm bao gồm việc không nêu tên người biểu diễn khi sử dụng bản ghi âm, hoặc xuyên tạc hình tượng biểu diễn gây phương hại đến danh dự, uy tín của họ. Trong bối cảnh công nghệ, việc sử dụng các công cụ kỹ thuật số để cắt ghép, chỉnh sửa hình ảnh, giọng nói của người biểu diễn (ví dụ công nghệ Deepfake) nhằm tạo ra các sản phẩm gây nhầm lẫn hoặc bôi nhọ được xem là hành vi xâm phạm trực tiếp quyền nhân thân "bảo vệ sự toàn vẹn hình tượng biểu diễn" quy định tại Điều 29 khoản 2 điểm b. Ngoài ra, hành vi phát trực tiếp (livestream) trái phép các buổi biểu diễn mà không xin phép là xâm phạm quyền truyền đạt đến công chúng cuộc biểu diễn chưa được định hình.
Khoản 2 Điều 35 LSHTT quy định: "Xâm phạm quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình quy định tại Điều 30"
Hành vi vi phạm điển hình là sao chép, phân phối, cho thuê hoặc phát sóng bản ghi âm, ghi hình mà không được phép. Trong môi trường số, khái niệm "phân phối" bao gồm cả việc cung cấp bản ghi âm, ghi hình tới công chúng theo cách mà họ có thể tiếp cận tại địa điểm và thời gian do họ lựa chọn (quyền "making available"). Các hành vi vận hành trang web, ứng dụng cho phép nghe, xem hoặc tải xuống các bản ghi âm, ghi hình trái phép đều thuộc nhóm hành vi này.
Khoản 3 Điều 35 LSHTT quy định: "Xâm phạm quyền của tổ chức phát sóng quy định tại Điều 31"
Hành vi vi phạm bao gồm tái phát sóng, định hình hoặc sao chép chương trình phát sóng. Việc các nền tảng trực tuyến thu tín hiệu từ đài truyền hình và phát lại video trên internet mà không có sự đồng ý của chủ sở hữu quyền là hành vi xâm phạm độc quyền phát sóng và định hình chương trình.
2.2. Nhóm hành vi vi phạm nghĩa vụ và biện pháp công nghệ
Khoản 4 Điều 35 LSHTT "Không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ quy định tại Điều 32 và Điều 33 của Luật này."
Pháp luật quy định các trường hợp ngoại lệ cho phép sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã công bố trong hoạt động kinh doanh thương mại mà không cần xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao (theo Điều 32, 33). Hành vi không thực hiện nghĩa vụ tài chính này đối với chủ sở hữu quyền hoặc tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan là hành vi xâm phạm quy định tại khoản 4.
Khoản 5, khoản 6 Điều 35 LSHTT quy định: "Cố ý hủy bỏ hoặc làm vô hiệu biện pháp công nghệ hữu hiệu do chủ sở hữu quyền liên quan thực hiện để bảo vệ quyền của mình nhằm thực hiện hành vi quy định tại Điều này và Điều 28 của Luật này.
Sản xuất, phân phối, nhập khẩu, chào bán, bán, quảng bá, quảng cáo, tiếp thị, cho thuê hoặc tàng trữ nhằm mục đích thương mại các thiết bị, sản phẩm hoặc linh kiện, giới thiệu hoặc cung cấp dịch vụ khi biết hoặc có cơ sở để biết thiết bị, sản phẩm, linh kiện hoặc dịch vụ đó được sản xuất, sử dụng nhằm vô hiệu hóa biện pháp công nghệ hữu hiệu bảo vệ quyền liên quan."
Đây là quy định quan trọng bảo vệ các biện pháp kỹ thuật (như mã hóa, khóa kỹ thuật số) mà chủ sở hữu quyền áp dụng để kiểm soát việc truy cập và sử dụng tác phẩm. Khoản 5 xử lý hành vi trực tiếp cố ý hủy bỏ hoặc làm vô hiệu các biện pháp này (như bẻ khóa phần mềm, vượt tường lửa). Khoản 6 xử lý hành vi mang tính thương mại và hỗ trợ, bao gồm sản xuất, phân phối, quảng cáo các thiết bị, linh kiện hoặc dịch vụ nhằm mục đích vô hiệu hóa biện pháp công nghệ bảo vệ quyền.
2.3. Nhóm hành vi xâm phạm thông tin quản lý quyền
Căn cứ khoản 7, khoản 8 Điều 35 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi, bổ sung năm 2025 quy định: "Cố ý xóa, gỡ bỏ hoặc thay đổi thông tin quản lý quyền mà không được phép của chủ sở hữu quyền liên quan khi biết hoặc có cơ sở để biết việc thực hiện hành vi đó sẽ xúi giục, tạo khả năng, tạo điều kiện thuận lợi hoặc che giấu hành vi xâm phạm quyền liên quan theo quy định của pháp luật.
Cố ý phân phối, nhập khẩu để phân phối, phát sóng, truyền đạt hoặc cung cấp đến công chúng cuộc biểu diễn, bản sao cuộc biểu diễn đã được định hình hoặc bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng khi biết hoặc có cơ sở để biết thông tin quản lý quyền đã bị xóa, gỡ bỏ, thay đổi mà không được phép của chủ sở hữu quyền liên quan; khi biết hoặc có cơ sở để biết việc thực hiện hành vi đó sẽ xúi giục, tạo khả năng, tạo điều kiện thuận lợi hoặc che giấu hành vi xâm phạm quyền liên quan theo quy định của pháp luật."
Việc cố ý xóa, gỡ bỏ hoặc thay đổi thông tin quản lý quyền (RMI) mà không có phép của chủ sở hữu quyền liên quan — trong khi người thực hiện biết hoặc có căn cứ để biết rằng hành vi đó sẽ tạo điều kiện, xúi giục hoặc che giấu một hành vi xâm phạm quyền liên quan — là hành vi bị pháp luật cấm. Nếu sau đó người đó phân phối, nhập khẩu, phát sóng, truyền đạt hoặc cung cấp đến công chúng cuộc biểu diễn, bản sao cuộc biểu diễn đã được “định hình”, bản ghi âm/ghi hình hoặc chương trình phát sóng mà biết thông tin RMI đã bị can thiệp trái phép, thì cũng cấu thành vi phạm.
Những quy định này nhằm bảo đảm rằng thông tin nhận diện tác phẩm hoặc biểu diễn — tiêu đề, tác giả, người biểu diễn, điều kiện cấp phép — không bị xóa để tránh việc lợi dụng, phát tán trái phép tác phẩm đã mất dấu gốc. Như vậy, cả hành vi tác động đến thông tin quản lý quyền và hành vi phát tán tác phẩm “mất gốc” đều bị coi là xâm phạm quyền liên quan — bảo vệ một cách toàn diện quyền của người biểu diễn, chủ bản ghi hoặc chủ quyền liên quan.
3. Nhóm hành vi xâm phạm tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa
Căn cứ khoản 9, khoản 10 Điều 35 LSHTT quy định: "Sản xuất, lắp ráp, biến đổi, phân phối, nhập khẩu, xuất khẩu, chào bán, bán hoặc cho thuê thiết bị, hệ thống khi biết hoặc có cơ sở để biết thiết bị, hệ thống đó giải mã trái phép hoặc chủ yếu để giúp cho việc giải mã trái phép tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa.
Cố ý thu hoặc tiếp tục phân phối tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa khi tín hiệu đã được giải mã mà không được phép của người phân phối hợp pháp."
Việc sản xuất, lắp ráp, biến đổi, phân phối, nhập khẩu, xuất khẩu, chào bán, bán hoặc cho thuê các thiết bị, hệ thống khi biết hoặc có cơ sở để biết rằng chúng chủ yếu dùng để giải mã trái phép tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa là hành vi bị nghiêm cấm. Tương tự, nếu cố ý thu nhận hoặc tiếp tục phân phối tín hiệu vệ tinh đã bị giải mã mà không được sự cho phép hợp pháp của người phân phối thì cũng bị coi là xâm phạm. Những hành vi này vi phạm quyền của chủ thể phân phối hợp pháp, vì họ có quyền kiểm soát việc mã hóa, phân phối tín hiệu—việc giải mã trái phép và cung cấp rộng rãi tín hiệu đã giải mã phá vỡ cơ chế bảo vệ quyền đó. Do đó, cả người cung cấp công cụ hỗ trợ giải mã và người tự ý sử dụng tín hiệu sau khi giải mã đều chịu trách nhiệm pháp lý theo quy định bảo hộ quyền liên quan đối với tín hiệu vệ tinh được mã hóa.
4. Hành vi không thực hiện trách nhiệm của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian
Căn cứ khoản 11 Điều 35 LSHTT sửa đổi, bổ sung năm 2025 quy định: "Không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ quy định để được miễn trừ trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian quy định tại khoản 3 Điều 198b của Luật này."
Việc một doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian không thực hiện — hoặc thực hiện không đầy đủ — các quy định cần thiết để được miễn trừ trách nhiệm pháp lý theo Điều 198b của Luật Sở hữu trí tuệ có thể bị coi là hành vi xâm phạm quyền tác giả và quyền liên quan. Theo quy định, các doanh nghiệp trung gian như nền tảng mạng xã hội, dịch vụ lưu trữ, hosting, hay cung cấp truy cập Internet phải triển khai các biện pháp kỹ thuật, có hệ thống tiếp nhận yêu cầu gỡ bỏ nội dung vi phạm, hợp tác với chủ thể quyền hoặc cơ quan chức năng để xử lý vi phạm. Nếu họ không tuân thủ đầy đủ các nghĩa vụ này — chẳng hạn không gỡ bỏ nội dung vi phạm khi có yêu cầu — thì sẽ mất quyền “miễn trừ trách nhiệm” và sẽ phải chịu trách nhiệm liên đới về mọi thiệt hại phát sinh từ hành vi xâm phạm quyền tác giả hoặc quyền liên quan do người sử dụng dịch vụ gây ra.
Kết luận
Vì vậy, Điều 35 Luật Sở hữu trí tuệ cùng với hệ thống văn bản hướng dẫn đã tạo lập một hành lang pháp lý tương đối hoàn chỉnh để bảo vệ quyền liên quan tại Việt Nam, đặc biệt là trong môi trường số. Việc quy định chi tiết các hành vi xâm phạm, bao gồm cả các hành vi liên quan đến biện pháp công nghệ và trách nhiệm của doanh nghiệp trung gian, cho thấy sự nỗ lực nội luật hóa các chuẩn mực quốc tế. Tuy nhiên, hiệu quả thực thi phụ thuộc rất lớn vào sự chủ động của các chủ thể quyền trong việc vận dụng các quy định này và năng lực xử lý của các cơ quan chức năng trước các hình thức vi phạm ngày càng biến đổi tinh vi.
Mọi vướng mắc pháp lý vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162 để được đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm của Công ty luật Minh Khuê tư vấn, giải đáp chi tiết.Chúng tôi rất hân hạnh khi nhận được sự hợp tác của quý khách hàng.
Xin chân thành cảm ơn!