1. Phân loại án phí dân sự

(1) Căn cứ vào từng loại vụ án

Theo quy định của điểm b khoản 1 Điều 3 Nghị quyết số 326, án phí dân sự bao gồm các loại phí liên quan đến việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến lĩnh vực dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động. Ngoài ra, án phí dân sự cũng được áp dụng trong trường hợp Tòa án giải quyết cả phần dân sự của các vụ án hình sự (theo khoản 1 Điều 21 Nghị quyết số 326). Các mức án phí của Tòa án được quy định chi tiết tại Danh mục án phí và lệ phí Tòa án, được ban hành kèm theo Nghị quyết số 326.

(2) Căn cứ vào giá ngạch

Án phí dân sự được phân thành hai loại chính là án phí dân sự có giá ngạch và án phí dân sự không giá ngạch, theo quy định của Điều 24 Nghị quyết số 326 ở khoản 2 và 3 như sau:

- Vụ án dân sự không có giá ngạch là những vụ án trong đó đương sự không đặt ra yêu cầu cụ thể về một số tiền hoặc không thể xác định giá trị bằng một số tiền cụ thể. Những trường hợp như tranh chấp ly hôn, cấp dưỡng nuôi con, đòi tài sản cho mượn, cho ở nhờ, quyền sở hữu tài sản, và quyền sử dụng đất đều thuộc loại vụ án này. Trong quá trình xử lý, Tòa án chỉ xem xét về quyền sở hữu tài sản và quyền sử dụng đất mà không xác định giá trị cụ thể. Một số tình huống như việc yêu cầu công nhận hợp đồng mua bán tài sản, chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hoặc tuyên bố vô hiệu hợp đồng mua bán tài sản, chuyển nhượng quyền sử dụng đất đều không đặt ra yêu cầu về số tiền cụ thể.

- Vụ án dân sự có giá ngạch là những vụ án mà đương sự đặt ra yêu cầu cụ thể về một số tiền hoặc tài sản có thể xác định bằng một số tiền cụ thể. Các trường hợp như tranh chấp hợp đồng, chia tài sản chung, chia thừa kế, bồi thường thiệt hại tài sản, quyền sở hữu tài sản, và quyền sử dụng đất đều thuộc loại vụ án này. Trong quá trình xử lý, Tòa án phải xác định giá trị của tài sản hoặc quyền sở hữu quyền sử dụng đất theo phần. Cũng trong phạm vi này, các tranh chấp liên quan đến hợp đồng mua bán tài sản, chuyển nhượng quyền sử dụng đất thường liên quan đến việc đưa ra yêu cầu trả lại tiền, đặt cọc và áp đặt phạt cọc. Trong một số trường hợp, một bên có thể chấp nhận trả lại số tiền cọc đã nhận, trong khi bên kia có thể từ chối chấp nhận phạt cọc.

Do đó, sự khác biệt giữa vụ án dân sự có giá ngạch và vụ án dân sự không có giá ngạch nằm ở việc trong vụ án dân sự có giá ngạch, yêu cầu của đương sự thường liên quan đến tiền, trong khi đó, trong vụ án dân sự không có giá ngạch, đương sự không đặt ra yêu cầu về số tiền cụ thể.

(3) Theo trình tự giải quyết vụ án

Phí dân sự bao gồm cả phí dân sự sơ thẩm và phí dân sự phúc thẩm, được quy định tại các điểm a, b, c của khoản 1 Điều 24 Nghị quyết số 326.

 

2. Án phí án dân sự có giá ngạch được quy định như thế nào?

Điều 24, Khoản 3 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 chi tiết hóa về án phí có ngạch như sau:

Trong vụ án dân sự có giá ngạch, đó là những vụ án mà đương sự đặt ra yêu cầu cụ thể về một số tiền hoặc tài sản có thể xác định được bằng một số tiền cụ thể. Các trường hợp như tranh chấp về tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn, chia thừa kế, và các loại hợp đồng đều thuộc loại vụ án này. Trong quá trình giải quyết, Tòa án cần xác định giá trị của tài sản hoặc quyền sở hữu sử dụng đất theo từng phần.

Điểm khác biệt giữa vụ án dân sự có giá ngạch và vụ án dân sự không có giá ngạch là ở chỗ trong vụ án dân sự có giá ngạch, đương sự đưa ra yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề liên quan đến tài sản. Ngược lại, trong vụ án dân sự không có giá ngạch, đương sự không có yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề liên quan đến tài sản.

Bảng án phí dân sự có ngạch cũng được quy định một cách cụ thể trong Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 như sau:

Stt

Tên án phí

Mức thu

II

Án phí dân sự

 

1

Án phí dân sự sơ thẩm

 

1.3

Đối với tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình có giá ngạch

 

a

Từ 6.000.000 đồng trở xuống

300.000 đồng

b

Từ trên 6.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng

5% giá trị tài sản có tranh chấp

c

Từ trên 400.000.000 đồng đến 800.000.000 đồng

20.000. 000 đồng + 4% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 400.000.000 đồng

d

Từ trên 800.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng

36.000.000 đồng + 3% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt 800.000.000 đồng

đ

Từ trên 2.000.000.000 đồng đến 4.000.000.000 đồng

72.000.000 đồng + 2% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt 2.000.000.000 đồng

e

Từ trên 4.000.000.000 đồng

112.000.000 đồng + 0,1% của phần giá trị tài sản tranh chấp vượt 4.000.000.000 đồng.

1.4

Đối với tranh chấp về kinh doanh, thương mại có giá ngạch

 

a

Từ 60.000.000 đồng trở xuống

3.000.000 đồng

b

Từ trên 60.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng

5% của giá trị tranh chấp

c

Từ trên 400.000.000 đồng đến 800.000.000 đồng

20.000.000 đồng + 4% của phần giá trị tranh chấp vượt quá 400.000.000 đồng

d

Từ trên 800.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng

36.000.000 đồng + 3% của phần giá trị tranh chấp vượt quá 800.000.000 đồng

đ

Từ trên 2.000.000.000 đồng đến 4.000.000.000 đồng

72.000.000 đồng + 2% của phần giá trị tranh chấp vượt 2.000.000.000 đồng

e

Từ trên 4.000.000.000 đồng

112.000.000 đồng + 0,1% của phần giá trị tranh chấp vượt 4.000.000.000 đồng

1.5

Đối với tranh chấp về lao động có giá ngạch

 

a

Từ 6.000.000 đồng trở xuống

300.000 đồng

b

Từ trên 6.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng

3% giá trị tranh chấp, nhưng không thấp hơn 300.000 đồng

c

Từ trên 400.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng

12.000.000 đồng + 2% của phần giá trị có tranh chấp vượt quá 400.000.000 đồng

d

Từ trên 2.000.000.000 đồng

44.000.000 đồng + 0,1% của phần giá trị có tranh chấp vượt 2.000.000.000 đồng

2

Án phí dân sự phúc thẩm

 

2.1

Đối với tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động

300.000 đồng

2.2

Đối với tranh chấp về kinh doanh, thương mại

2.000.000 đồng

 

3. Quy định ngoại lệ về nghĩa vụ chịu án phí dân sự

Về nguyên tắc, nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm được thực hiện theo quy định của Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS năm 2015) cùng với các quy định tại Điều 26 và Điều 29 của Nghị quyết số 326. Tuy nhiên, nghĩa vụ dân sự sơ thẩm vẫn tồn tại một số trường hợp được xem xét như là ngoại lệ và đáng chú ý như sau:

- Trường hợp thứ nhất: Trước khi bắt đầu phiên tòa, nếu đương sự hoặc bị cáo đạt được thỏa thuận về việc bồi thường thiệt hại và yêu cầu Tòa án ghi nhận thỏa thuận đó, họ sẽ không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (điểm f, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326).

- Trường hợp thứ hai: Nếu đương sự tự thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng và yêu cầu Tòa án ghi nhận trong bản án, quyết định trước khi Tòa án tiến hành hòa giải, họ sẽ không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với việc phân chia tài sản chung (điểm d, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326).

- Trường hợp thứ ba: Nếu Tòa án đã tiến hành hòa giải và tại phiên hòa giải, đương sự không đạt được thỏa thuận về phân chia tài sản chung của vợ chồng, nhưng trước khi bắt đầu phiên tòa, các bên đương sự tự thỏa thuận về việc phân chia tài sản chung và yêu cầu Tòa án ghi nhận trong bản án, quyết định, thì họ sẽ được xem là đã thỏa thuận giải quyết vụ án, và phải chịu 50% mức án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với giá trị phần tài sản mà họ được chia (điểm đ, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326).

- Trường hợp thứ tư: Nếu các đương sự thỏa thuận về mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng trước khi mở phiên tòa, nhưng yêu cầu Tòa án ghi nhận thỏa thuận đó trong bản án, quyết định, thì người có nghĩa vụ cấp dưỡng sẽ chịu 50% mức án phí dân sự sơ thẩm, tương tự như trong trường hợp vụ án dân sự không có giá ngạch (điểm b, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326).

Bài viết liên quan: Trường hợp nào được miễn tạm ứng án phí dân sự năm 2023?

Luật Minh Khuê xin tiếp nhận yêu cầu tư vấn của quý khách hàng qua số hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin trân trọng cảm ơn!