1. Hệ thống luật của Vương quốc Anh

Vương quốc Anh bao gồm Great Britain (England, Wales, Scotland) và Bắc Ireland. Một số luật được áp dụng trên khắp Vương quốc Anh, một số luật chỉ áp dụng riêng tại một trong 4 vùng England, Scotland, Wales, Northern Ireland.

- Nguồn luật: Hệ thống luật pháp Anh có 4 nguồn chính là Luật Quốc hội thông qua, Luật chung (Common law), Luật Liên minh Châu Âu, và Hiệp ước Châu Âu về Nhân quyền.

- Văn bản luật: Hệ thống văn bản luật của Vương quốc Anh được chia làm hai nhóm là Nhóm văn bản luật cơ bản/chính (Primary legislation) và Nhóm văn bản luật thứ cấp (Secondary legislation).

Nhóm văn bản luật cơ bản gồm tất cả những luật chính do các cơ quan lập pháp của Vương quốc Anh và các Quốc hội trong lịch sử đã thông qua.

Nhóm văn bản luật thứ cấp là văn bản pháp luật do một cá nhân hoặc một cơ quan dưới quyền được giao quyền xây dựng. Cá nhân hoặc cơ quan này đã được nêu trong luật cơ bản. Đặc biệt, quyền hạn đưa ra văn bản dưới luật có thể được trao cho các Bộ trưởng hoặc các cơ quan công quyền. Các loại chính của luật thứ cấp là các văn bản pháp luật như các kế hoạch, các quy định và lệnh/chỉ thị theo luật định; các quy định nhà thờ.

2. Hiệu lực của luật mới và chỉnh sửa luật

  • Các cơ quan xây dựng văn bản luật:

  Nhiều cơ quan của Vương quốc Anh tham gia vào xây dựng văn bản luật: Quốc hội Vương quốc Anh, Quốc hội Scotland, Quốc hội Wales, Quốc hội Bắc Ireland, Chính phủ, Tổng giám mục Carterbury và York, các chính quyền địa phương.

Khi dự thảo một luật mới hoặc một luật chỉnh sửa được cả Hạ viện và Thượng viện thông qua, đồng thời được hoàng gia Anh chấp thuận (Nữ hoàng Anh) sẽ trở thành luật. Tập hợp các luật đã được Quốc hội Vương quốc Anh, Quốc hội Scotland, Quốc hội Wales, Quốc hội Bắc Ireland thông qua sẽ trở thành Hệ thống luật cơ bản của Anh.

  • Hiệu lực của luật mới:

Chính phủ sẽ chịu trách nhiệm thực hiện một luật mới đã được Quốc hội thông qua. Một luật mới có thể có hiệu lực ngay lập tức, hoặc vào một ngày cụ thể trong tương lai, hoặc từng giai đoạn một. Thời gian một luật mới có hiệu lực sẽ được nêu trong mục "hiệu lực" ở phần gần cuối của luật.

Đôi khi ngày cụ thể không được nêu ra và quyết định về thời gian để luật có hiệu lực được để lại cho một Bộ trưởng của một bộ liên quan quyết định.

Mặc dù Quốc hội không chịu trách nhiệm thực hiện luật nhưng nhiều ủy ban chuyên trách của Quốc hội thực hiện việc kiểm tra và giám sát một luật mới được chính phủ thực thi thế nào và tác động của luật mới đó ra sao. Đây được gọi là kiểm tra giám sát sau lập pháp.

  • Những thay đổi/điều chỉnh luật:

Việc sửa đổi/điều chỉnh luật sẽ do một cá nhân hay một tổ chức/cơ quan theo thẩm quyền được nêu trong luật đó soạn thảo, sau đó sẽ được trình ra Quốc hội để thông qua. Một luật đã được chỉnh sửa bổ sung khi được Quốc hội thông qua có thể có hiệu lực ngay lập tức, hoặc vào một ngày cụ thể trong tương lai, hoặc từng giai đoạn một. Một luật cũng có thể bị quốc hội bãi bỏ để các điều khoản của luật đó không còn được áp dụng nữa.

Các ủy ban Quốc hội xem xét các luật của Vương quốc Anh và đưa ra kiến nghị loại bỏ những luật đã hết thời hạn.

- Phạm vi áp dụng văn bản luật

 Vương quốc Anh có nhiều văn bản luật do vậy có thuật ngữ "phạm vi địa lý" được sử dụng trong văn bản luật nhằm mô tả khu vực địa lý mà một văn bản pháp luật được áp dụng. Một văn bản pháp luật có thể được áp dụng trên toàn Vương quốc Anh hoặc chỉ giới hạn ở từng khu vực như Scottland, Wales hay Bắc Ireland.

- Các văn bản được xây dựng dưới văn bản luật

Khi các luật mới ra đời nhiều văn bản sau đó được xây dựng kèm với văn bản luật đó như văn bản giải thích luật, bản ghi nhớ giải thích, văn bản giải thích chính sách.

3. Cơ chế giám sát thực thi pháp luật

Với tư cách là cơ quan lập pháp, Nghị viện Anh thường xuyên thực hiện các hoạt động giám sát việc thực thi những sản phẩm lập pháp của mình, hay còn gọi là Giám sát hậu lập pháp (Post-legislative Scrutiny). Ở Anh, việc giám sát thực thi pháp luật không có một cơ sở pháp lý ở tầm đạo luật mà chủ yếu biểu hiện thông qua các hoạt động cụ thể của các Ủy ban của cả hai viện. Hoạt động này được khởi động và hoàn thiện dần qua các năm gần đây. Trong một tài liệu nghiên cứu được thực hiện bởi Bộ Tư pháp, lý do của việc tiến hành các hoạt động giám sát thực thi pháp luật này bao gồm: (1) Quy định tốt hơn, (2) Tập trung vào quá trình thực thi, (3) Hiệu quả của các chính sách, (4) Chính sách tốt và (5) Chất lượng lập pháp. Thực tế cho thấy, phần lớn các hoạt động giám sát thực thi pháp luật chú trọng vào hoạt động của cơ quan hành pháp. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, Nghị viện có thể tham khảo tới các cách tiếp cận của tòa án trong nhừng vụ việc cụ thể. Một ví dụ điển hình là từ năm 2006, một Ủy ban kết hợp giữa Hạ viện và Thượng viện về Nhân quyền đã thực hiện những nghiên cứu giám sát để tìm hiểu cách tiếp cận của tòa án trong việc định nghĩa khái niệm “thẩm quyền công” và “chức năng của một thực thể công”. Sau cuộc giám sát, Ủy ban trên đã kết luận rằng những phán quyết và lập luận của tòa án đã co hẹp những khái niệm kia hơn mục đích ban đầu của Nghị viện. Nói chung, thông qua việc giám sát thực thi pháp luật mà trong trường hợp này là tìm hiểu quan điểm của tòa án, Nghị viện có thể xem xét tới những sự giải thích tư pháp và đối chiếu nó với quan điểm lập pháp của mình để hướng tới việc dung hòa và làm rõ hơn những vấn đề pháp lý liên quan. Đây cũng được đánh giá như một cơ chế đối thoại mang tính chất xây dựng giữa Nghị viện và tòa án. Mặc dù Nghị viện không thể can thiệp trực tiếp vào bản án nhưng thông qua giám sát thực thi pháp luật việc áp dụng pháp luật có thể thống nhất hơn.

Theo Franklin De Vieze, hoạt động giám sát thực thi pháp luật của Nghị viện được thực hiện dựa trên nhiều nguyên lý khác nhau. Trong số đó, giám sát thực thi pháp luật xem xét tới ảnh hưởng của một đạo luật tới toàn thể xã hội, không chỉ thể hiện ở các quy định của pháp luật mà còn ở cách tòa án giải thích, cách người dân vận dụng quy định của pháp luật. Như vậy, cách tiếp cận, giải thích và vận dụng pháp luật của Tòa án là một nguồn quan trọng cho hoạt động giám sát thực thi pháp luật.

Nói chung, xét trên một phương diện nhất định, sự giám sát thực thi pháp luật của Nghị viện cũng là cách thức để phần nào nâng cao tính minh bạch của tòa án thông qua việc giảm thiểu những mâu thuẫn trong cách giải thích pháp luật với dụng ý của nhà làm luật. Các kết luận giám sát thực thi pháp luật của Nghị viện chỉ có tính tham khảo mà không làm thay đổi kết quả bản án. Đây là điểm mà cơ chế này dừng lại ở việc cân bằng giữa tính độc lập tư pháp và phát huy sự minh bạch của tòa án. 

4. Hoạt động kiểm soát quyền lực nhà nước tại Vương quốc Anh

Vương quốc Anh là một quốc gia phát triển, hoạt động kiểm soát quyền lực nhà nước luôn được xem là những nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của nhà nước. Vương quốc Anh theo chính thể quân chủ đại nghị, quyền hành pháp thuộc về nguyên thủ quốc gia và Chính phủ, nhưng Chính phủ mới là cơ quan nắm giữ quyền lực này một cách thực chất.

 Ở nước Anh, sau khi Hạ viện được thành lập, Nữ hoàng Anh bổ nhiệm người đứng đầu đảng chiếm đa số ghế trong Hạ viện làm Thủ tướng. Nếu không có đảng nào chiếm đa số ghế trong Hạ viện thì Nữ hoàng sẽ bổ nhiệm Thủ tướng sau khi thương lượng với những người đứng đầu các đảng trong Hạ viện. Như vậy, về nguyên tắc, chức vụ Thủ tướng được lập ra từ Nghị viện nên phải chịu trách nhiệm trước Nghị viện. Nghị viện có quyền giám sát Chính phủ. Sự tồn tại của Chính phủ liên quan mật thiết với sự ủng hộ của đa số các thành viên Nghị viện. Nhìn nhận ở khía cạnh truyền thống văn hóa, chính trị của người Anh, kỷ luật đảng rất được coi trọng. Thủ tướng là người đứng đầu đảng chính trị có đa số ghế trong Hạ viện nên sự kiểm soát của Nghị viện đối với hành pháp có sự mềm dẻo nhất định.

 Nghị viện Anh chất vấn Chính phủ vào các ngày đã được quy định, khi đó, các nghị sĩ đặt câu hỏi đối với các thành viên Chính phủ và các thành viên này phải có trách nhiệm trả lời. Mọi câu hỏi chất vấn đều do các nghị sĩ thuộc các đảng đối lập chiếm số ít trong Nghị viện đưa ra. Do đó, sự kiểm soát này không phát huy tác dụng do phe đa số luôn có đủ khả năng, biện pháp để bảo vệ Chính phủ, tức bảo vệ người của đảng mình.

Vì Chính phủ được Nghị viện thành lập nên sự kiểm soát của Chính phủ đối với Nghị viện vô cùng hạn chế, Chính phủ nằm dưới sự kiểm soát của Nghị viện và có thể bị bãi bỏ bởi Nghị viện. Nghị viện Anh có thể luận tội các quan chức cấp cao của bộ máy hành pháp, có thể truy tố các bộ trưởng về hoạt động, hành vi của họ. Hạ viện tiến hành các thủ tục truy tố, Thượng viện xét xử và kết tội. Thủ tục này có thể buộc các quan chức phải chịu các hình phạt giam giữ, thậm chí là tử hình. Ngoài ra, các ủy ban của Hạ viện cũng có quyền điều tra một hoạt động, lĩnh vực cụ thể của Chính phủ. Các ủy ban này có quyền thu thập bằng chứng và triệu tập nhân chứng để phục vụ điều tra.

Hạ viện Anh có quyền bỏ phiếu bất tín nhiệm đối với Chính phủ, buộc Chính phủ phải từ chức. Việc bỏ phiếu bất tín nhiệm không cần phải Thượng viện hay Nữ hoàng phê chuẩn. Nếu bị Hạ viện bất tín nhiệm, hoặc Chính phủ Anh sẽ bị lật đổ hoặc Hạ viện có thể bị giải tán để bầu cử một Hạ viện mới, từ đó hình thành nên một Chính phủ mới.

Xuất phát từ cách thức tổ chức bộ máy chính phủ mà Chính phủ Anh ít có tiếng nói trong sự kiểm soát của Nghị viện, nói cách khác, đó là sự không cân bằng giữa các nhánh quyền lực. Vì vậy, hiệu quả kiểm soát quyền lực không đến từ cấu trúc nhà nước, từ những cơ sở pháp lý chính thức mà hình thành từ truyền thống văn hóa, từ cam kết chính trị và sự tự kiểm soát của giới cầm quyền.

5. Ảnh hưởng của hệ thống pháp luật Vương quốc Anh

Common law được mở rộng ra thế giới thông qua hai con đường. Thứ nhất là chinh phục thuộc địa (chủ yếu) áp dụng cho các nước là thuộc địa của Anh. Thứ hai là các nước chủ động tiếp thu, chấp nhận một cách tự nguyện với việc thiết lập và thúc đẩy quan hệ chính trị, thương mại với Anh.

Đối với Mỹ, người Anh bắt đầu chiếm các thuộc địa tại Bắc Mỹ vào đầu thế kỷ XVI. Các thuộc địa đã dần được hình thành, phát triển và có hai xu hướng pháp luật: một số người chú ý xây dựng xã hội thần quyền với vai trò to lớn của nhà thờ Cơ đốc giáo tòa án là nhà thờ, người phán xử là các cha cố, dựa vào kinh thánh và một xu hướng thứ hai là coi trọng pháp luật thành văn thể hiện ở hoạt động pháp điển hóa và ban hành bộ luật ở Massachusetts năm 1634 và Pensylvania năm 1682. Như vậy thời kì này đã nảy sinh nhu cầu cần sự điều chỉnh của pháp luật nhưng các thuộc địa không sử dụng luật Anh.

Giai đoạn đầu XVIII tới 1776: Pháp Luật Anh đã bắt đầu được tiếp nhận. Ở gia đoạn này pháp luật Anh đã bắt đầu được tiếp nhận ở các bang thuộc địa của họ ở Bắc Mĩ. Do giao lưu thương mại buôn bán giữa mẫu quốc Anh với các thuộc địa và giữa các thuộc địa với nhau tăng mạnh do đó nảy sinh tranh chấp thương mại và cần có pháp luật, nhất là luật thương mại điều chỉnh. Pháp luật Anh được áp dụng vì thuộc địa buôn bán nhiều với mẫu quốc, nguồn luật của mẫu quốc rất sẵn đồng thời ngôn ngữ chung nên dễ dùng.

Sau khi giành được độc lập, tinh thần dân tộc lên cao nên có xu hướng phủ nhận pháp luật Anh, biểu hiện ban hành Hiến pháp (trong khi tại Anh không có hiến pháp thành văn), một số bang còn cấm không áp dụng pháp luật Anh. Sau khi Hiến pháp liên bang ra đời, lý tưởng xây dựng một quốc gia dân chủ thực sự thì nhiều vấn đề phức tạp nảy sinh cần đến pháp luật điều chỉnh. Một số muốn áp dụng luật La mã nhưng gặp phải rào cản là ngôn ngữ: tiếng Pháp là ngoại ngữ được nhiều người biết nhất thì pháp luật Pháp lúc ấy lại chưa được nhiều người biết đến. Trong khi đó nguồn luật và tiếng Anh thì lại rất sẵn do đó quay lại với common law.

Truyền thống luật Anh có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất trong các ngành luật tư, còn đối với các ngành luật công, ảnh hưởng của truyền thống luật Anh có phần lu mờ vì những người di cư từ mẫu quốc sang chán ghét chế độ phong kiến hà khắc, hình thức tổ chức nhà nước Anh không được cư dân ở đây ưa chuộng, phần lớn trong số họ di cư sang Bắc Mỹ vì lý do xung đột hoặc bất mãn với trật tự xã hội ở Anh và họ không hề muốn tạo lại một nhà nước như thế tại vùng đất hoang vu, rộng lớn mới này. Tư tưởng của xã hội Mỹ và lý tưởng xây dựng một nhà nước thực sự dân chủ, đã dẫn đến triệt tiêu một số đặc điểm có tính chất bảo thủ của pháp luật Anh.