1. Phụ nữ có thai có bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam không?
Theo cách hiểu thông thường, việc áp dụng biện pháp tạm giam đối với những đối tượng vi phạm pháp luật hình sự được coi là biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất trong quá trình tố tụng hình sự. Theo quy định tại khoản 2 Điều 88 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, có quy định cụ thể về trường hợp phụ nữ mang thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người già yếu, người bị bệnh nặng, và có nơi cư trú rõ ràng. Đối với những trường hợp này, không áp dụng biện pháp tạm giam mà thay vào đó áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác.
Quy định này trong pháp luật Việt Nam được xem là sự kế thừa và phát huy tinh thần khoan dung nhân đạo trong hệ thống pháp luật, nhất là trong Hiến pháp 2013 và Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Chú trọng đến quyền lợi và bảo vệ cho thai nhi được giải thích bằng việc nhìn nhận rằng, mặc dù người mẹ có thể là người vi phạm tội, nhưng thai nhi không có tội và có quyền được chăm sóc, bảo vệ để phát triển bình thường như những thai nhi khác. Điều này thể hiện tinh thần của pháp luật Việt Nam đối với việc bảo vệ tính mạng và quyền lợi của con người, bao gồm cả thai nhi.
Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật hiện hành, trong một số trường hợp cụ thể nhằm ngăn chặn sự bỏ trốn của bị can, bị cáo, vẫn có khả năng áp dụng biện pháp tạm giam đối với phụ nữ mang thai.
Căn cứ theo quy định tại khoản 4 Điều 119 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 có quy định về áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam như sau:
Đối với bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, là người già yếu, người bị bệnh nặng mà có nơi cư trú và lý lịch rõ ràng thì không tạm giam mà áp dụng biện pháp ngăn chặn khác, trừ các trường hợp:
- Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã;
- Tiếp tục phạm tội;
- Có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm hoặc người thân thích của những người này;
- Bị can, bị cáo về tội xâm phạm an ninh quốc gia và có đủ căn cứ xác định nếu không tạm giam đối với họ thì sẽ gây nguy hại đến an ninh quốc gia.
Đồng thời, căn cứ theo quy định tại khoản 2 của Điều 88 trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, có thể nhận thấy rằng quyết định tạm giam đối với phụ nữ mang thai trong các trường hợp nêu trên đòi hỏi rằng những bị can, bị cáo thuộc vào nhóm người có mức độ nguy hiểm từ hành vi phạm tội. Điều này đồng nghĩa với việc phải có cơ sở cho việc xác định rằng những người này đang tạo ra một mức độ nguy hiểm đặc biệt trong quá trình điều tra, truy tố, và xét xử.
Trong trường hợp phụ nữ mang thai bị tạm giam để tránh bỏ trốn hoặc để bắt theo lệnh truy nã, hoặc đã bị bắt và đang thi hành án tù tại trại giam, quyết định này được coi là biện pháp cần thiết để đối phó với mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội. Trong những trường hợp này, mục tiêu là ngăn chặn bị can, bị cáo tiếp tục hành vi phạm tội và đảm bảo quá trình tố tụng diễn ra một cách thuận lợi mà không bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Như vậy, mặc dù có quy định trong pháp luật về việc không áp dụng biện pháp tạm giam đối với phụ nữ mang thai, tuy nhiên, trong những trường hợp đặc biệt, biện pháp này vẫn có thể được áp dụng. Cụ thể, pháp luật hiện hành được xây dựng bởi các nhà lập pháp có chứa điều khoản cho phép áp dụng biện pháp tạm giam đối với phụ nữ mang thai chỉ khi hành vi phạm tội của họ được xác định là mang lại mức độ nguy hiểm đặc biệt đối với xã hội.
Trong quá trình xây dựng và thực hiện quy định này, các cơ quan có thẩm quyền cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng về đặc điểm cá nhân của bị can, bị cáo. Đồng thời, quyết định áp dụng biện pháp tạm giam cũng cần được đưa ra vào thời điểm phù hợp để tránh ảnh hưởng đến sức khỏe của người mang thai. Điều này nhấn mạnh vào việc tránh tình trạng lạm dụng lợi ích pháp lý để lách luật của bị can, bị cáo, đồng thời thể hiện tinh thần nhân đạo và chính sách bảo vệ quyền lợi của bà mẹ trẻ em trong quá trình xử lý hình sự.
2. Quy định về chế độ ăn ở của người bị tạm giam, tạm giữ
Căn cứ theo quy định tại Điều 27 Luật Thi hành tạm giam tạm giữ 2015 quy định về chế độ ăn ở của người bị tạm giam, tạm giữ như sau:
- Người bị tạm giữ, người bị tạm giam được bảo đảm tiêu chuẩn định lượng về gạo, rau, thịt, cá, đường, muối, nước chấm, bột ngọt, chất đốt, điện, nước sinh hoạt.
- Người bị tạm giữ được nhận quà của thân nhân gửi trong thời gian bị tạm giữ không quá một lần; nếu gia hạn tạm giữ thì mỗi lần gia hạn tạm giữ được nhận quà một lần. Người bị tạm giam được nhận quà của thân nhân gửi đến không quá ba lần trong 01 tháng. Định lượng quà là đồ ăn, uống cho mỗi lần gửi không được vượt quá ba lần tiêu chuẩn ăn ngày thường.
- Người bị tạm giữ, người bị tạm giam được bảo đảm an toàn thực phẩm trong ăn, uống. Cơ sở giam giữ tổ chức bếp ăn và được cấp các dụng cụ cần thiết cho việc bảo quản lương thực, thực phẩm, nấu ăn, nước uống và chia đồ ăn theo khẩu phần tiêu chuẩn.
- Chỗ nằm tối thiểu của mỗi người bị tạm giữ, người bị tạm giam là 02 mét vuông (m2), được bố trí sàn nằm và có chiếu.
3. Một số bất cập khi áp dụng quy định đối với phụ nữ có thai và nuôi con dưới 36 tháng tuổi
Hiện nay, tất cả các quy định trong Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 (BLHS) và Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) như trên đều nhằm mục đích chính là tạo điều kiện thuận lợi nhất để người mẹ có thể chăm sóc con của mình một cách tốt nhất. Điều này thể hiện rõ chính sách hình sự nhân đạo của Nhà nước, đặc biệt là trong việc bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em.
Tuy nhiên, bên cạnh những quy định mang lại lợi ích cho người phạm tội, như phụ nữ mang thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi, thực tế áp dụng có thể gặp phải những bất cập. Điều này có thể dẫn đến việc xử lý không đủ nghiêm túc đối với hành vi phạm tội, cũng như có thể ảnh hưởng đến hiệu quả của công tác phòng, chống tội phạm.
Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng, một số bất cập đã nảy sinh từ những quy định của pháp luật như sau:
Thứ nhất, trong trường hợp nuôi con dưới 36 tháng tuổi, không chỉ người mẹ mà còn có thể là người cha nuôi dưỡng. Có trường hợp khi người mẹ qua đời sau khi sinh con, và người cha trở thành người chăm sóc chính cho đứa trẻ. Tuy nhiên, quy định hiện hành chưa xác định rõ liệu người cha có được áp dụng chế định có lợi này khi họ có hành vi phạm tội hay không. Nếu quy định này được xem xét theo góc nhìn nhân đạo về quyền lợi của người mẹ, thì nó có thể dẫn đến việc chỉ bảo vệ quyền lợi của người mẹ mà không quan tâm đến quyền lợi của đứa trẻ.
Thứ hai, khi nhận nuôi trẻ dưới 36 tháng tuổi, có những trường hợp chưa được rõ ràng đối với người nuôi, như là ông bà, chú bác, cô dì nuôi cháu dưới 36 tháng tuổi khi cha mẹ cháu qua đời. Quy định hiện tại chỉ thể hiện "phụ nữ nuôi con dưới 36 tháng tuổi", không phân biệt giữa con đẻ và con nuôi. Do đó, trên thực tế, có thể cần xem xét và cập nhật để áp dụng quy định theo tình huống cụ thể và đảm bảo bảo vệ quyền lợi của cả người mẹ và đứa trẻ.
Thứ ba, thời gian tính để thực hiện các thủ tục tố tụng tiếp theo đối với phụ nữ mang thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi trong một số trường hợp cũng không phù hợp. Trong thực tế, việc mang thai đôi khi có thể dẫn đến sự sẩy thai và cũng có trường hợp nuôi con vì lý do nào đó mà đứa bé tử vong trước khi đủ 36 tháng tuổi. Quy định hiện hành về việc hoãn chấp hành án phạt tù hoặc tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù cần đảm bảo thời gian đủ để trẻ đến đủ 36 tháng tuổi. Tuy nhiên, điều này trở nên không phù hợp khi xảy ra sự sẩy thai hoặc trẻ qua đời trước khi đủ 36 tháng tuổi.
Rõ ràng, quy định chỉ có hiệu lực và phù hợp khi đứa trẻ được sinh ra và nuôi dưỡng đến đủ 36 tháng tuổi, chứ không phải khi sự kiện mang thai hay việc nuôi con dưới 36 tháng tuổi có kết quả khác như sẩy thai hoặc tử vong trước thời hạn nêu trên. Điều này đề xuất sự cần thiết của việc xem xét và điều chỉnh các quy định để đảm bảo sự linh hoạt và sự công bằng trong quá trình thực hiện các biện pháp tố tụng đối với những trường hợp đặc biệt như vậy.
Xem thêm: Người nhà có được phép gặp người đang bị tạm giữ, tạm giam không?
Như vậy trên đây là toàn bộ thông tin về Áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam với phụ nữ có thai mà Công ty Luật Minh Khuê muốn gửi đến quý khách mang tính tham khảo. Nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 19006162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc.
Nếu quý khách cần báo giá dịch vụ pháp lý thì quý khách có thể gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin sớm nhất! Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách! Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn!