1.Ba thủ tục giải quyết tranh chấp trong NAFTA

NAFTA có ba thủ tục giải quyết tranh chấp riêng biệt được quy định tại Chương 11, Chương 19 và Chương 20. Thủ tục thu hút sự chú ý của các học giả là hệ thống giải quyết tranh chấp giữa chính phủ nước tiếp nhận đầu tư và nhà đầu tư được quy định tại Chương 11. Thủ tục giải quyết tranh chấp giữa chính phủ nước tiếp nhận đầu tư và nhà đầu tư tương tự như thủ tục trọng tài đầu tư quốc tế được quy định tại nhiều hiệp định đầu tư song phương (viết tắt là ‘BITs’).

2. Giải quyết tranh chấp giữa chính phủ nước tiếp nhận đầu tư và nhà đầu tư 

 Nếu một nhà đầu tư NAFTA thấy rằng những hoạt động của chính phủ một bên NAFTA dẫn đến việc trưng thu hay phân biệt đối xử và vi phạm những nghĩa vụ của NAFTA quy định tại Chương 11, thì nhà đầu tư có thể yêu cầu phân xử trọng tài giữa chính phủ nước tiếp nhận đầu tư và nhà đầu tư. Chương 11 cho phép nhà đầu tư yêu cầu thiết lập một hội đồng trọng tài căn cứ theo những quy tắc của Trung tâm giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế của Ngân hàng thế giới (viết tắt là ‘ICSID’) và ‘Những nguyên tắc tạo thuận lợi hơn’ (‘Additional Facility’) của ICSID, hoặc căn cứ theo những quy tắc của Uỷ ban Liên hợp quốc về luật thương mại quốc tế (‘UNCITRAL’). Căn cứ theo những quy tắc này, hội đồng trọng tài phán quyết vụ việc bao gồm một hội đồng ba luật sư được trao quyền quyết định - liệu chính phủ có bồi thường thiệt hại cho nhà đầu tư nước ngoài hay không? Căn cứ theo Điều 1122 của NAFTA, ba chính phủ của NAFTA đều đồng ý phương thức trọng tài. Sự đồng ý này đảm bảo rằng chính phủ nước tiếp nhận đầu tư không thể chống lại cố gắng phân xử trọng tài bằng việc giữ nguyên ý kiến của riêng mình. Điều 1136 của NAFTA quy định rằng ‘Mỗi bên quy định việc thực thi phán quyết trọng tài trên lãnh thổ của mình’. Cả Điều 1122 và Điều 1136 đều dẫn chiếu tới Công ước Niu Y-oóc về thi hành phán quyết trọng tài và Công ước liên Mỹ về trọng tài thương mại quốc tế, theo đó đảm bảo rằng thủ tục công nhận và thi hành một phán quyết trọng tài quốc tế tại toà án quốc gia của thành viên NAFTA, được thiết lập theo những công ước này, có thể được thực hiện. Nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam có những quyền tương tự, theo đó yêu cầu phân xử trọng tài giữa chính phủ nước tiếp nhận đầu tư và nhà đầu tư có tính bắt buộc, căn cứ vào những điều khoản trong những hiệp định đầu tư ASEAN và hơn 40 BITs mà Chính phủ Việt Nam đã kí kết. Mặc dù những quy định về giải quyết tranh chấp giữa chính phủ nước tiếp nhận đầu tư và nhà đầu tư của NAFTA tương tự như những quy định cơ bản của BITs và các FTAs khác, nhưng chúng vẫn là đối tượng được bình luận sâu rộng theo cách hàn lâm. Lí do một phần của điều này là: những quy tắc của NAFTA và quy phạm của các bên đã làm cho thủ tục kiện tụng quy định tại Chương 11 của NAFTA rất minh bạch. Theo Phụ lục 1137.4, phán quyết trọng tài cuối cùng có thể được chính phủ hoặc nhà đầu tư đang có tranh chấp công bố. Để hiểu biết hơn về phương thức trọng tài giữa chính phủ nước tiếp nhận đầu tư và nhà đầu tư theo Chương 11 của NAFTA, chúng ta có thể xem hai án lệ, Metalclad v. Mexico, và Thunderbird v. Mexico. Trong vụ Metalclad v. Mexico, một doanh nghiệp của Hoa Kỳ đầu tư vào Mê-hi-cô để xây dựng công trình chôn lấp chất thải độc hại. Trước khi thực hiện đầu tư, nhà đầu tư nhận được những đảm bảo từ Chính phủ liên bang Mê-hi-cô rằng sẽ được cấp tất cả những giấy phép cần thiết cho đầu tư. Nhà đầu tư nhận được các giấy phép cấp liên bang nhưng không nhận được giấy phép xây dựng của thành phố. Metalclad yêu cầu cấp giấy phép xây dựng của thành phố, nhưng Hội đồng thành phố đã từ chối cấp phép sau khi họ nhận được yêu cầu 13 tháng, trong một cuộc họp Hội đồng thành phố mà Metalclad không được mời tham dự. Ngay sau khi công trình được hoàn thành, chính quyền thành phố ngăn cản công trình hoạt động và Thống đốc bang tuyên bố khu vực xung quanh công trình là khu vực bảo tồn sinh thái, nhằm bảo vệ loài xương rồng hiếm, do đó cấm vĩnh viễn công trình xử lí chất thải hoạt động trong khu vực. Năm 2000, một toà án của NAFTA đã xác định rằng hành động của chính quyền địa phương được coi là hành động trưng thu không bồi thường thiệt hại, do đó vi phạm Điều 110 của NAFTA. Toà án cũng xác định rằng Chính phủ Mê-hi-cô đã không đối xử công bằng và thoả đáng theo quy định của luật pháp quốc tế theo đòi hỏi của Điều 1105 NAFTA. Toà án đã phán quyết Metalclad được bồi thường 16.685.000 USD. Chính phủ Mê-hi-cô đã đồng ý trả 15,6 triệu USD vào năm 2001. Trong vụ Thunderbird v. Mexico, một nhà đầu tư Ca-na-đa xin cấp giấy phép kinh doanh trò chơi sử dụng máy chơi game điện tử. Luật sư của Thunderbird đã viết cho cơ quan quản lí đánh bạc của Mê-hi-cô yêu cầu cơ quan này trả lời bằng văn bản có giá trị pháp lí, xác nhận rằng việc Thunderbird cung ứng các dịch vụ chơi game bằng loại máy này cho khách hàng là hợp pháp. Cơ quan quản lí của Mê-hi-cô đã ban hành văn bản pháp lí trên Công báo, tuyên bố rằng nếu loại máy đó được sử dụng để chơi những trò chơi may rủi thì sẽ không được coi là hợp pháp. Tuy nhiên, nếu loại máy đó chỉ dùng để chơi những trò chơi rèn luyện kĩ năng thì được hoạt động hợp pháp. Kết quả là Chính phủ Mê-hi-cô xác định loại máy này liên quan đến trò chơi may rủi, do đó là bất hợp pháp theo pháp luật về đánh bạc của Mê-hi-cô. Thunderbird đã nộp đơn yêu cầu phân xử trọng tài và cho rằng Mê-hi-cô đã vi phạm nghĩa vụ NT được quy định tại Chương 11 và đã trưng thu khoản đầu tư của Thunderbird vào ngành dịch vụ máy chơi game. Trong quá trình phân xử trọng tài, Mê-hi-cô đưa ra chứng cứ chứng minh rằng loại máy do Thunderbird sử dụng thực chất dựa vào may rủi, bởi vì loại máy đó có máy tính sử dụng hệ thống tạo ra những con số ngẫu nhiên để nhằm xác định kết quả của trò chơi. Hội đồng thấy rằng bằng cách không công bố rõ chức năng thực sự của máy, Thunderbird đã đưa ra những thông tin không đầy đủ và không chính xác về máy chơi game, trong khi họ lại yêu cầu Chính phủ Mê-hi-cô phải trả lời bằng văn bản có giá trị pháp lí. Kết quả là Thunderbird đã không thể đòi hỏi rằng mình có ‘hi vọng chính đáng’, khi mà Công báo của Mê-hi-cô tuyên bố ngăn cản các trò chơi bị coi là bất hợp pháp. Thunderbird không được nhận tiền bồi thường do bị trưng thu tài sản, bởi vì: ‘...Sẽ không phải trả tiền bồi thường cho những hành vi chiếm đoạt theo đúng pháp luật, khi mà nhà đầu tư hoặc khoản đầu tư chưa bao giờ được hưởng quyền trong hoạt động kinh doanh mà sau này bị cấm’.60 Hội đồng xác định rằng việc Mê-hi-cô cấm sử dụng loại máy của Thunderbird, bởi chúng được coi là những máy đánh bạc bất hợp pháp, là việc sử dụng hợp pháp quyền kiểm soát trật tự công cộng và không vi phạm nghĩa vụ của Mê-hi-cô trong NAFTA.

3. Giải quyết tranh chấp liên quan đến các biện pháp khắc phục thương mại 

 Chương 19 quy định thủ tục giải quyết tranh chấp liên quan đến việc xem xét lại những phán quyết về các biện pháp khắc phục thương mại của các bên NAFTA. Thủ tục này là giải pháp thay thế cho thủ tục xem xét lại những phán quyết về các biện pháp khắc phục thương mại của toà án trong nước. Đối với Hoa Kỳ, hệ thống giải quyết tranh chấp liên quan đến các biện pháp khắc phục thương mại tại Chương 19 là hệ thống giải quyết tranh chấp duy nhất trong lĩnh vực này. Bởi vì Hoa Kỳ đã không chấp nhận đưa vấn đề khắc phục thương mại ra giải quyết theo thủ tục giải quyết tranh chấp của bất kì FTA nào, trừ NAFTA. Tuy nhiên, những phán quyết về các biện pháp khắc phục thương mại của Hoa Kỳ và tất cả các thành viên WTO khác đều là đối tượng của thủ tục giải quyết tranh chấp của WTO.

4. Giải quyết tranh chấp giữa quốc gia với quốc gia 

NAFTA quy định thủ tục giải quyết tranh chấp giữa các chính phủ thành viên của NAFTA trong việc giải thích và áp dụng NAFTA. Những thủ tục giải quyết tranh chấp quy định tại Chương 20 tương tự như hệ thống giải quyết tranh chấp của Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO (DSB). Các bên của NAFTA cố gắng đạt được một quyết định trọng tài theo đó xác định xem liệu những hành động của một bên NAFTA có phù hợp với NAFTA hay không, hoặc có làm vô hiệu hoá hoặc làm suy giảm những lợi ích của Hiệp định hay không (những quy định về vô hiệu hoá hoặc làm suy giảm lợi ích của Hiệp định được quy định tại Phụ lục 2004 của NAFTA). Những nghĩa vụ pháp lí quy định trong NAFTA là nghĩa vụ ‘WTO+’, bởi vì chúng bao gồm những cam kết về tự do hoá bổ sung cho những cam kết mà các bên NAFTA đã cam kết trong WTO. Có thể cho rằng, Chương 20 của NAFTA quy định về một cơ quan tài phán năng động cho phân xử trọng tài, để giải quyết tranh chấp giữa chính phủ với chính phủ, bởi vì Chương 20 quy định về một cơ quan tài phán duy nhất để thực thi những nghĩa vụ ‘WTO+’ này. Trên thực tế, WTO là cơ quan tài phán năng động hơn nhiều trong việc giải quyết tranh chấp giữa ba nước thành viên NAFTA. Từ khi NAFTA có hiệu lực vào năm 1994, mới chỉ có ba vụ tranh chấp được giải quyết theo thủ tục trọng tài theo Điều 20. Đó là vụ tranh chấp năm 1995 về việc Ca-na-đa áp thuế quan đối với một số nông sản của Hoa Kỳ; vụ tranh chấp năm 1997 liên quan đến việc Hoa Kỳ áp thuế quan tự vệ đối với cây đậu chổi; và vụ tranh chấp năm 1998 liên quan đến việc Hoa Kỳ không thực hiện nghĩa vụ mở cửa thị trường dịch vụ xe tải xuyên biên giới. Ngược lại, từ năm 1995, ba nước NAFTA đã 35 lần trình lên WTO yêu cầu tham vấn giải quyết tranh chấp giữa các nước này với nhau. Con số này cho thấy DSB là cơ quan tài phán ưa thích để giải quyết tranh chấp giữa các bên của NAFTA khi có sự lựa chọn cơ quan tài phán giữa WTO và NAFTA.

5. Kết luận 

NAFTA đã thành công trong việc tự do hoá thương mại và đầu tư giữa Cana-đa, Mê-hi-cô và Hoa Kỳ. Mặc dù Hiệp định đã làm tăng thêm giao dịch thương mại và tăng cường hội nhập kinh tế của ba nước, nhưng quá trình thực hiện luôn luôn không hề dễ dàng. Kể từ khi Hiệp định có hiệu lực vào năm 1994, đã có những tranh chấp thương mại, căng thẳng chính trị, những vụ AD và những phiên xử trọng tài giữa ba nước. Tuy nhiên, thông tin tổng thể về việc thực hiện NAFTA cho thấy một FTA toàn diện và tham vọng có thể đem lại lợi ích cho những nước phát triển và DCs như thế nào.

Luật Minh Khuê (sưu tầm và biên tập)