1.Nghĩa vụ đối xử quốc gia (NT) và đối xử tối huệ quốc (MFN)
Trong NAFTA, ba bên đồng ý dành đối xử MFN theo Điều 1203 và NT theo Điều 1204 cho những nhà cung ứng dịch vụ qua biên giới của các bên NAFTA. Khoản 2 Điều 1213 đưa ra định nghĩa về thương mại dịch vụ qua biên giới như sau: Cung ứng dịch vụ qua biên giới hay thương mại dịch vụ qua biên giới có nghĩa là cung ứng một dịch vụ: (a) Từ lãnh thổ của một bên vào lãnh thổ của một bên khác; (b) Trong lãnh thổ của một bên bởi một người của bên đó cho một người của một bên khác; (c) Bởi công dân của một bên trong lãnh thổ của một bên khác. Định nghĩa trên bao gồm cả việc cung ứng dịch vụ từ bên này cho bên kia. Ví dụ, một kiến trúc sư ở Mê-hi-cô chuẩn bị bản thiết kế toà nhà và gửi các kế hoạch thiết kế cho khách hàng của mình ở Hoa Kỳ. Định nghĩa trên cũng bao gồm việc cung ứng dịch vụ ‘trên lãnh thổ của một bên khác’. Ví dụ, kiến trúc sư người Mê-hi-cô đi đến Hoa Kỳ để thiết kế toà nhà ở đó. SAA tóm tắt nghĩa vụ MFN và NT như sau: ... Diều 1202 và Điều 1203 yêu cầu mỗi chính phủ chấp thuận không phân biệt đối xử đối với các công ty cung ứng dịch vụ từ những bên NAFTA khác… Theo Điều 1202, chính phủ của bên NAFTA đó không được đối xử thiên vị đối với các công ty địa phương. Ở cấp quốc gia, cấp tỉnh và địa phương, yêu cầu chính phủ phải dành cho nhà cung ứng dịch vụ từ các bên NAFTA khác sự đối xử ‘không kém thuận lợi hơn’ so với những công ty dịch vụ trong nước, trong những hoàn cảnh tương tự. Ngoài ra, Điều 1203 yêu cầu chính phủ các bên NAFTA phải dành đối xử ‘tối huệ quốc’ cho các nhà cung ứng dịch vụ từ các bên NAFTA khác. Điều đó nghĩa là một chính phủ phải đối xử với nhà cung ứng đó giống như đối xử với các công ty đến từ bất kì nước nào (bao gồm cả những nước bên ngoài NAFTA) trong những hoàn cảnh giống nhau... Tiêu chuẩn ‘không kém thuận lợi hơn’ quy định tại Điều 1202 và Điều 1203 không đòi hỏi nhà cung ứng dịch vụ từ bên NAFTA khác phải nhận được sự đối xử giống hoặc thậm chí ngang bằng như dành cho những công ty trong nước hoặc những công ty nước ngoài khác. Những nhà cung ứng dịch vụ nước ngoài có thể được đối xử khác, nếu hoàn cảnh cho phép. Ví dụ, nếu cần thiết, một tiểu bang có thể áp đặt những yêu cầu đặc biệt đối với những nhà cung ứng dịch vụ từ Ca-na-đa và Mê-hi-cô để bảo vệ người tiêu dùng ở một mức độ giống như đối với những công ty trong nước. Những quy định không phân biệt đối xử của NAFTA cấm chính phủ các bên áp đặt luật lệ và những quy định nhằm bóp méo những quy định về cạnh tranh để ủng hộ cho những công ty trong nước; chúng không được cản trở sự phân biệt về mặt pháp luật giữa những công ty đó và nhà cung ứng dịch vụ nước ngoài.43 Chính phủ của các bên NAFTA được phép duy trì ‘những phân biệt đối xử chính đáng theo quy định của pháp luật’ giữa những nhà cung ứng dịch vụ nội địa và nước ngoài. Ngoài ra, các chính phủ được phép tiếp tục yêu cầu những nhà cung ứng dịch vụ chuyên môn, như trong lĩnh vực y khoa và pháp luật, phải có giấy phép của cơ quan có thẩm quyền ở cấp quốc gia hoặc cấp tỉnh, nơi thực hiện dịch vụ, và chính phủ của các bên NAFTA không bắt buộc phải cấp giấy phép chuyên môn tại nước của họ, đơn giản vì người đó có giấy phép chuyên môn hoặc đã được đào tạo nghề nghiệp tại một bên NAFTA khác.
2. Phương pháp ‘Danh sách phủ định’ đối với tự do hoá thương mại dịch vụ trong NAFTA
Phạm vi và nội dung của tự do hoá thương mại dịch vụ khá rộng, bởi vì NAFTA sử dụng một ‘danh sách phủ định’ trong cấu trúc của những cam kết cho mỗi bên. Theo phương pháp ‘danh sách phủ định’, tất cả các loại dịch vụ đều được tự do hoá, trừ ngành dịch vụ được liệt kê trong ‘danh sách phủ định’, theo đó xác định những ngành dịch vụ không được tự do hoá. Danh sách này nằm trong Phụ lục NAFTA về biểu cam kết dịch vụ dành cho mỗi bên. Ví dụ, Mê-hi-cô đưa vào ‘danh sách phủ định’ của nước mình một trường hợp loại ra khỏi quá trình tự do hoá thương mại dịch vụ, đó là trường hợp ‘Nhân sự chuyên môn của ngành vận tải hàng hải’. Trường hợp loại trừ này được liệt kê như sau: Hình thức hạn chế: - Đối xử quốc gia (NT) (Điều 1202) - Đối xử tối huệ quốc (MFN) (Điều 1203) - Sự hiện diện tại địa phương (Điều 1205) Chỉ có người có quốc tịch Mê-hi-cô do sinh ra có thể làm nghề: (a) Cơ trưởng, hoa tiêu, thuyền trưởng, thợ máy, thợ cơ khí và thủy thủ trên tàu thủy hoặc tàu bay mang cờ Mê-hi-cô; (b) Hoa tiêu cảng, chỉ huy cảng và điều hành sân bay; và (c) Cán bộ hải quan. Trong ví dụ này, Mê-hi-cô đã ‘hạn chế’ hoặc loại trừ khỏi cam kết của mình, theo Chương 12 của NAFTA, nghĩa vụ dành NT, MFN và quyền hiện diện tại địa phương cho nhà cung ứng dịch vụ đến từ các bên NAFTA. Ngược lại, hầu hết các FTA được đàm phán bởi ASEAN và các thành viên ASEAN đều sử dụng phương pháp ‘danh sách khẳng định’, theo đó chỉ tự do hoá những ngành dịch vụ được liệt kê cụ thể trong biểu cam kết dịch vụ. Những FTAs có Hoa Kỳ tham gia đều theo phương pháp ‘danh sách phủ định’ (tất cả các dịch vụ đều được tự do hoá, trừ những ngành được liệt kê) và đã đạt được nhiều sự tự do hoá hơn. Tuy nhiên, hiệu quả tương đối của sức mạnh đàm phán của Hoa Kỳ, thông tin và những lợi ích khác của phương pháp ‘danh sách phủ định’ đã không được xác định rõ. Phần lớn những FTAs trong nội bộ châu Á đều không cam kết dành MFN cho các đối tác tham gia hiệp định, hoặc chỉ bao gồm những nghĩa vụ nhẹ nhàng về mặt này. Nhà cung ứng dịch vụ qua biên giới và pháp luật nhập cư: Trong GATS, các nhà đàm phán đã thiết lập bốn phương thức cung ứng dịch vụ, trong đó phương thức 4 được hiểu là việc cung ứng dịch vụ bởi thể nhân hiện diện trên lãnh thổ của một bên khác. Nói cách khác, nếu nước A cam kết với nước B theo phương thức 4, thì điều đó nghĩa là cam kết cho người của nước B được phép làm việc ở nước A bằng cách cung ứng dịch vụ tại nước A. Nhập cư có thể là vấn đề nhạy cảm trong các cuộc đàm phán thương mại, vì vậy cam kết theo phương thức 4 có xu hướng khá hạn chế trong WTO và các FTAs. Trong NAFTA, các bên không cam kết theo phương thức 4 liên quan đến việc cho phép thể nhân làm việc tại các nước theo biểu cam kết dịch vụ trong Chương 12. Thay vào đó, NAFTA giải quyết tất cả các vấn đề về việc làm và nhập cảnh tạm thời trong Chương 16 - ‘Nhập cảnh tạm thời cho nhà kinh doanh’. Theo Chương 16, các bên đồng ý cho nhà kinh doanh, thương nhân và nhà đầu tư, người nhận chuyển nhượng trong nội bộ công ty và một số loại nghề nghiệp nhất định được phép tạm thời nhập cảnh vào lãnh thổ của các bên NAFTA bằng một loại ‘thị thực không nhập cư’ (‘nonimmigrant visa’) để thực hiện hoạt động kinh doanh của mình. Những loại nghề nghiệp được cấp thị thực bao gồm kế toán, kĩ sư, luật sư, chuyên gia y tế, nhà khoa học và giáo sư đại học.
3.Tự do hóa đầu tư là gì ? Nội dung của tự do hóa đầu tư ?
Khái niệm
Tự do hóa đầu tư trong tiếng Anh là Investment Liberalization.
Tự do hóa đầu tư là quá trình trong đó các rào cản đối với hoạt động đầu tư, các phân biệt đối xử trong đầu tư được từng bước dỡ bỏ, các tiêu chuẩn đối xử tiến bộ dần dần được thiết lập và các yếu tố để đảm bảo sự hoạt động đúng đắn của thị trường được hình thành.
Nội dung của tự do hóa đầu tư
Tiến trình tự do hóa đầu tư diễn ra ở các nước, các khu vực và các tổ chức trên thế giới theo ba nội dung chính sau:
- Loại bỏ dần các rào cản và những ưu đãi mang tính phân biệt đối xử trong hoạt động đầu tư.
- Thiết lập các tiêu chuẩn đối xử tiến bộ đối với hoạt động đầu tư.
- Tăng cường các biện pháp giám sát thị trường để đảm bảo sự vận hành đúng đắn của thị trường.
5.Ý nghĩa của tự do hóa đầu tư
Khi tự do hóa đầu tư phát triển, bản thân nó cũng sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển của toàn cầu hóa. Trước tiên, khi các rào cản đối với đầu tư được dỡ bỏ, các tiêu chuẩn đối xử tiến bộ được thiết lập, chắc chắn dòng vốn đầu tư sẽ có cơ hội để tăng trưởng.
Cùng với dòng vốn đầu tư, dòng hàng hóa, công nghệ, sức lao động lưu chuyển giữa các nước có chế độ FDI tự do cũng sẽ tăng lên. Những điều này sẽ tạo lên sức ép để các nước phải đẩy nhanh quá trình tự do hóa kinh tế trên mọi lĩnh vực.
Tự do hóa đầu tư cũng tạo điều kiện thuận lợi cho các công ty đa quốc gia thực hiện chiến lược chinh phục toàn cầu của mình nhờ dễ dàng mở thêm các chi nhánh, công ty con ở các nước có chế độ đầu tư tự do.
Tự do hóa đầu tư là một nội dung không thể thiếu của toàn cầu hóa kinh tế. Ngày nay, các nước không thể đứng ngoài xu hướng tự do hóa đầu tư, phải tham gia vào xu hướng này. Vấn đề là tham gia như thế nào để tận dụng được các tác động tích cực và hạn chế các tác động tiêu cực của xu hướng này.
5. Tự do hoá đầu tư theo NAFTA
Chương 11 của NAFTA được chia làm hai phần. Phần A quy định bốn bảo đảm cơ bản cho nhà đầu tư NAFTA, đó là: (i) Không phân biệt đối xử; (ii) Không bị yêu cầu thực hiện các biện pháp đầu tư bị cấm (‘performance requirements’); (iii) Tự do chuyển vốn liên quan đến một khoản đầu tư; và (iv) Chỉ bị trưng thu theo đúng pháp luật quốc tế. Điều 1105 của NAFTA cũng đòi hỏi rằng nhà đầu tư phải được nhận ‘sự đối xử theo tiêu chuẩn tối thiểu... bao gồm sự đối xử công bằng và thoả đáng, sự bảo hộ đầy đủ và an toàn.’ Những nghĩa vụ không phân biệt đối xử này tương tự như những nghĩa vụ NT và MFN dành cho nhà cung ứng dịch vụ qua biên giới . Những nghĩa vụ liên quan đến trưng thu được tóm tắt trong SAA như sau: Theo Điều 1110, chính phủ của một bên NAFTA không được phép trưng thu khoản đầu tư của nhà đầu tư từ những bên NAFTA ngoài mục đích công, trên cơ sở không phân biệt đối xử và tuân thủ đúng thủ tục (due process). Khoản bồi thường thiệt hại phải được thanh toán không chậm trễ theo giá trị thị trường công bằng của khoản đầu tư bị trưng thu, cùng với bất kì khoản lãi thích hợp nào, và phải thực hiện được và chuyển nhượng được. Các bên của NAFTA không đồng ý cho phép đầu tư vào tất cả các ngành kinh tế. Ví dụ, Mê-hi-cô đưa ra hạn chế để loại trừ những ngành sau ra khỏi quá trình tự do hoá: ‘vệ tinh và liên lạc điện báo, vận tải đường sắt, năng lượng hạt nhân, sản xuất và phân phối điện năng như một ngành dịch vụ công, và các hoạt động liên quan đến việc sản xuất, phân phối và mua bán những sản phẩm năng lượng và hoá dầu cơ bản’.
Luật Minh Khuê (sưu tầm và biên tập)