1. Việc bác sỹ từ chối xác định giới tính thai nhi có đúng không?

Trong bối cảnh nghiêm cấm các hành vi lựa chọn giới tính thai nhi theo Nghị định 104/2003/NĐ-CP, việc bác sĩ từ chối xác định giới tính thai nhi có thể được coi là phù hợp với quy định pháp luật. Điều này là do các biện pháp mà bác sĩ từ chối thực hiện nằm trong danh sách các hành vi bị nghiêm cấm theo quy định của Nghị định nói trên.

Đầu tiên, nghiêm cấm tuyên truyền và phổ biến phương pháp tạo giới tính thai nhi dưới nhiều hình thức khác nhau, từ tổ chức nói chuyện, viết, dịch đến nhân bản các loại tài liệu đa dạng như sách, báo, tranh, ảnh, ghi hình, và ghi âm. Bác sĩ bằng cách từ chối xác định giới tính thai nhi đã đồng thời tránh được việc tham gia vào bất kỳ hình thức tuyên truyền hay phổ biến nào liên quan đến việc lựa chọn giới tính thai nhi.

Thứ hai, Nghị định cũng nghiêm cấm chẩn đoán để lựa chọn giới tính thai nhi thông qua các phương tiện như xác định qua triệu chứng, bắt mạch; xét nghiệm máu, gen, nước ối, tế bào; siêu âm, và các phương pháp khác. Bác sĩ, khi từ chối thực hiện các biện pháp này, không chỉ làm giảm khả năng thực hiện lựa chọn giới tính thai nhi mà còn giữ vững tinh thần của Nghị định 104/2003/NĐ-CP về việc ngăn chặn những hành vi này.

Cuối cùng, Nghị định cũng cấm loại bỏ thai nhi vì lý do lựa chọn giới tính bằng các biện pháp phá thai, cung cấp, sử dụng các loại hóa chất, thuốc và các biện pháp khác. Bác sĩ từ chối xác định giới tính thai nhi không chỉ không tham gia vào việc loại bỏ thai nhi theo lựa chọn giới tính mà còn giữ cho quá trình này không được thực hiện.

Như vậy, bác sĩ từ chối xác định giới tính thai nhi có thể được coi là hành động phù hợp với quy định pháp luật, đồng thời là một biện pháp tích cực trong việc ngăn chặn và đối phó với các hành vi lựa chọn giới tính thai nhi mà pháp luật đang nghiêm cấm

 

2. Xử phạt đối với bác sỹ chẩn đoán giới thai nhi

Theo quy định tại Điều 98 Nghị định 117/2020/NĐ-CP, bác sĩ thực hiện hành vi chẩn đoán và xác định giới tính thai nhi có thể phải đối mặt với các hình phạt nặng nề. Hành vi vi phạm này được chia thành ba loại, mỗi loại áp đặt mức phạt khác nhau, nhằm tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm của người thực hiện.

Trước hết, nếu bác sĩ sử dụng phương pháp bói toán để xác định giới tính thai nhi, họ sẽ phải đối mặt với mức phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng. Điều này là một biện pháp quản lý chặt chẽ để ngăn chặn các phương pháp không chính xác và không khoa học trong việc xác định giới tính thai nhi, đồng thời làm tăng cường uy tín và chất lượng của ngành y tế.

Tiếp theo, nếu bác sĩ thực hiện hành vi bắt mạch hoặc sử dụng siêu âm, xét nghiệm để chẩn đoán giới tính thai nhi và tiết lộ thông tin này, họ sẽ phải đối mặt với mức phạt tiền cao hơn, trong khoảng từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng. Điều này nhấn mạnh sự nghiêm túc của việc tiết lộ thông tin về giới tính thai nhi, và tăng cường sự cảnh báo đối với các bác sĩ về việc duy trì tính bảo mật và đạo đức nghề nghiệp.

Đặc biệt, để làm nổi bật tính nghiêm trọng của hành vi vi phạm, Điều 98 Nghị định còn đề cập đến hình thức xử phạt bổ sung. Bác sĩ thực hiện hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 có thể bị tước quyền sử dụng giấy phép hoạt động và chứng chỉ hành nghề trong thời hạn từ 01 tháng đến 03 tháng. Điều này là một biện pháp trừng phạt mạnh mẽ, đồng thời có tác dụng cảnh báo và ngăn chặn những hành vi vi phạm tái diễn.

Như vậy, việc chẩn đoán và xác định giới tính thai nhi không đúng cách không chỉ đối mặt với mức phạt tiền đáng kể mà còn đe dọa uy tín và quyền lợi nghề nghiệp của bác sĩ. Điều này thể hiện sự quan trọng của việc duy trì chuẩn mực và đạo đức trong lĩnh vực y tế để đảm bảo chất lượng dịch vụ và sự tin cậy từ phía bệnh nhân và cộng đồng

 

3. Xử phạt hành vi ép buộc người khác dùng phương pháp để có được giới tính thai nhi

Theo Điều 99 Nghị định 117/2020/NĐ-CP, hành vi đe dọa, sử dụng vũ lực, uy hiếp tinh thần để ép buộc người khác phải áp dụng phương pháp để có được giới tính thai nhi bị xem xét một cách nghiêm túc và áp đặt mức phạt tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của hành vi vi phạm. Mức phạt tiền được xác định rõ từng khoảng cụ thể:

Hành vi đe dọa, sử dụng vũ lực, uy hiếp tinh thần để ép buộc người khác phải áp dụng phương pháp để có được giới tính thai nhi theo ý muốn sẽ bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc ngăn chặn những hành vi bạo lực và đe dọa trong lựa chọn giới tính thai nhi.

Nếu hành vi trên được thực hiện bằng cách sử dụng vũ lực để ép buộc người khác phải áp dụng phương pháp để có được giới tính thai nhi theo ý muốn, mức phạt tăng lên, trong khoảng từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng. Điều này nhấn mạnh tính nghiêm trọng và đặc biệt làm nổi bật tình trạng đe dọa và bạo lực trong các tình huống như vậy.

Hành vi chỉ định hoặc hướng dẫn sử dụng thuốc, cung cấp dụng cụ, thuốc, vật tư để có được giới tính thai nhi theo ý muốn cũng bị xem xét chặt chẽ và bị phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng. Điều này nhấn mạnh đến tác động tiêu cực của việc khuyến khích hay hỗ trợ các hành vi lựa chọn giới tính thai nhi mà pháp luật cấm.

Hình thức xử phạt bổ sung có thể bao gồm đình chỉ hoạt động của cơ sở trong thời hạn từ 01 tháng đến 03 tháng, cũng như tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh trong thời hạn từ 01 tháng đến 03 tháng. Điều này nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc xử lý nghiêm hành vi vi phạm và đảm bảo rằng những người thực hiện chúng phải chịu trách nhiệm nghiêm túc.

Ngoài ra, biện pháp khắc phục hậu quả yêu cầu buộc tiêu hủy dụng cụ, thuốc, vật tư đã được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm, hướng tới việc ngăn chặn tái phạm và loại bỏ những yếu tố hỗ trợ cho những hành vi vi phạm quy định về lựa chọn giới tính thai nhi.

Mặc dù mức phạt tiền cho cá nhân và tổ chức đã được xác định rõ, tuy nhiên, theo sửa đổi của Nghị định 124/2021/NĐ-CP, mức phạt tiền đối với tổ chức sẽ là gấp đôi mức phạt đối với cá nhân. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc áp đặt trách nhiệm và xử lý nghiêm hành vi lựa chọn giới tính thai nhi trái pháp luật, đồng thời tăng cường hỗ trợ cho những người bị ảnh hưởng bởi những hành vi này

 

4. Tiêu chuẩn xác định khuyết tật bẩm sinh về giới tính

Theo quy định tại Điều 5 Nghị định 88/2008/NĐ-CP, việc xác định khuyết tật bẩm sinh về giới tính của thai nhi được thực hiện dựa trên các tiêu chuẩn y tế cụ thể. Các trường hợp khuyết tật bẩm sinh về giới tính được chia thành ba loại chính, mỗi loại đi kèm với các đặc điểm và tiêu chí xác định cụ thể.

Nam lưỡng giới giả nữ:

- Bộ phận sinh dục có dương vật nhỏ, có thể sờ thấy tinh hoàn hoặc không, siêu âm hoặc nội soi thấy tinh hoàn, không có tử cung và buồng trứng.

- Nhiễm sắc thể giới tính là XY hoặc gen biệt hóa tinh hoàn dương tính hoặc kết hợp cả hai trường hợp trên.

Nữ lưỡng giới giả nam:

- Bộ phận sinh dục có âm vật phát triển như dương vật nhưng không sờ thấy tinh hoàn, siêu âm hoặc nội soi thấy có tử cung, buồng trứng, không thấy tinh hoàn.

- Nhiễm sắc thể giới tính là XX.

Lưỡng giới thật:

- Bộ phận sinh dục không xác định được là nam hay nữ. Tuyến sinh dục có cả tổ chức tinh hoàn, buồng trứng.

- Nhiễm sắc thể giới tính có thể là một trong các dạng XX/XY; XXX/XY; XX/XXXY hoặc các dạng nhiễm sắc thể khác được xác định là lưỡng giới thật.

Các tiêu chuẩn này được thiết lập một cách chi tiết và minh bạch để giúp ngành y tế và các chuyên gia y tế có thể đưa ra đánh giá chính xác về giới tính của thai nhi và khuyết tật bẩm sinh liên quan. Việc áp dụng các tiêu chuẩn này là quan trọng để đảm bảo tính chính xác và khách quan trong quá trình chẩn đoán và đánh giá khuyết tật bẩm sinh về giới tính của thai nhi.

Sự rõ ràng và cụ thể trong các tiêu chuẩn này không chỉ giúp bác sĩ và chuyên gia y tế hiểu rõ về từng trường hợp mà còn hỗ trợ quyết định về liệu pháp và quản lý sau khi khám phá khuyết tật. Điều này đặt ra một nền tảng chắc chắn để đảm bảo quyền lợi và chăm sóc toàn diện cho những thai nhi có khuyết tật về giới tính, đồng thời thể hiện sự quan tâm của pháp luật đối với quyền con người và sức khỏe của tất cả các thành viên trong xã hội

Bài viết liên quan: Phổ biến phương pháp để có được giới tính thai nhi theo ý muốn có vi phạm?

Nội dung trên đây chỉ mang tính chất tham khảo. Trường hợp nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 19006162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc.

Nếu quý khách cần báo giá dịch vụ pháp lý thì quý khách có thể gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin sớm nhất! Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách! Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn quý khách hàng!