1. Những khái niệm chung về quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị?

- Kiến trúc là kết quả của sự sáng tạo của con người và là một phần quan trọng trong cảnh quan, gắn kết cảnh quan môi trường thiên nhiên và cảnh quan môi trường nhân tạo. Kiến trúc không chỉ mang tính khoa học tự nhiên mà còn mang tính khoa học xã hội, và điều này dẫn đến sự tranh cãi trong việc phân loại loại kiến trúc.

- Quy chế quản lý là văn bản chứa đựng các quy định pháp luật hoặc quy phạm xã hội, được cơ quan hoặc tổ chức có thẩm quyền ban hành theo một trình tự, thủ tục nhất định, có hiệu lực đối với các tổ chức và cá nhân trong phạm vi điều chỉnh của quy chế.

- Quy định là văn bản quy phạm do cơ quan hoặc tổ chức có thẩm quyền ban hành, chỉ định các công việc phải thực hiện hoặc không được thực hiện, và yêu cầu việc thực hiện đúng theo quy định của quy phạm pháp luật. Quy định cung cấp các nội dung cụ thể về chuyên môn, nghiệp vụ và có hiệu lực đối với các tổ chức và cá nhân trong phạm vi điều chỉnh.

- Đối với Quy chế và Quy định, cần đảm bảo ba yêu cầu cơ bản sau: (1) Tính hợp pháp - phải tuân theo các quy định của pháp luật, không vi phạm những quy định mà pháp luật nghiêm cấm; (2) Tính thực tiễn - phù hợp với yêu cầu quản lý theo thực tiễn của từng giai đoạn và đơn vị ban hành; (3) Tính hiệu quả và khả thi - đóng góp tích cực cho công tác quản lý và điều hành các hoạt động của tổ chức, cá nhân trong phạm vi điều chỉnh, tạo ra hành lang pháp lý và đảm bảo việc thực thi.

- "Quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị" và "Quy định quản lý theo đồ án quy hoạch đô thị, thiết kế đô thị" là hai công cụ chính phục vụ việc quản lý không gian, kiến trúc, và cảnh quan đô thị (bao gồm thiết kế đô thị và quản lý theo quy hoạch đô thị đã được duyệt). Các công cụ này được thiết lập sau khi quy hoạch đã được thực hiện, và dựa trên quy hoạch, thiết kế đô thị đã được duyệt. Quy chế quản lý kiến trúc (theo Luật Kiến trúc) chỉ cần căn cứ vào đặc điểm, tính chất tiêu biểu về văn hóa dân tộc của địa phương và không nhất thiết phải căn cứ vào quy hoạch đô thị đã được duyệt. Điều này có thể được coi là một thách thức và cũng là một cơ hội để đổi mới và sáng tạo trong lĩnh vực này.

2. Vai trò của quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị

Quy chế quản lý kiến trúc là một phần quan trọng của bộ "Khung công cụ" dùng để quản lý và phát triển. Nó không chỉ kế thừa các Quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị và Quy định quản lý theo đồ án quy hoạch đô thị, thiết kế đô thị đã được phê duyệt, mà còn bổ sung các đặc điểm, tính chất riêng về bản sắc văn hóa dân tộc.

Tuy nhiên, bản sắc văn hóa (vật thể/phi vật thể) luôn chứa đựng các Quy phạm xã hội có giá trị đa dạng, phong phú qua các thời kỳ lịch sử. Thuyết minh và bản vẽ chuyên môn (về quy hoạch xây dựng, kiến trúc cảnh quan) không thể diễn tả đầy đủ và toàn diện các Quy phạm xã hội này. Do đó, cần phối hợp với các chuyên ngành khác về văn hóa, lịch sử, xã hội, kinh tế, môi trường... để đảm bảo tính khả thi.

Các công cụ quản lý quy hoạch xây dựng, kiến trúc cảnh quan cần được xây dựng theo hướng quản lý phát triển, "Mở" và tập trung rà soát, bổ sung các "Hướng dẫn thực hành" (về quy hoạch xây dựng, kiến trúc cảnh quan) để giải quyết các vấn đề cấp bách tại các đô thị lớn, khu vực trọng điểm, khu vực đang bị tác động mạnh trong quá trình đô thị hóa, đặc biệt là khu vực giáp ranh nội thành/ ngoại thành và khu vực làng xã đô thị hoá, làng ven đô tại khu vực chuẩn bị chuyển đổi từ huyện thành quận.

Quy chế quản lý kiến trúc không thể chỉ đơn thuần là "Mong muốn của nhà quản lý" hay biến các lý thuyết trừu tượng về bản sắc văn hóa trong kiến trúc thành "Quy định cứng". Thực tế đã chứng minh đặc điểm dễ dàng thay thế, đan xen và biến đổi của kiến trúc và vật liệu nội thất/ngoại thất. Điều này dẫn đến xu hướng hỗn độn, không dễ dàng thay đổi một khu vực quy mô cấp đơn vị ở hoặc khu ở.

Vì vậy, cần nhìn nhận mô hình và phương thức quản lý phát triển mới: không có một chức năng nào hoàn toàn thuần tuý mà chỉ có thể là một khu vực kiến trúc hỗn hợp với các tỷ trọng các thành phần, được biến thiên cho phép trong một khoảng thời gian nhất định. Các yếu tố như mật độ, quy mô dân cư, công năng, hình thức kiến trúc và vật liệu sử dụng cũng có đặc tính biến đổi, dao động sau một khoảng thời gian và cần được thể hiện rõ trong quy hoạch chi tiết, thiết kế đô thị, quy chế quản lý kiến trúc và thiết kế công trình. Những nhận định này phải phù hợp với quy luật và đặc tính của từng giai đoạn phát triển và thực tiễn kiến trúc.

Trong phạm vi quản lý kiến trúc, quy chế quản lý kiến trúc không chỉ thiết lập trật tự về kiến trúc mà còn phải chứng minh khả năng kiểm soát sự trật tự về kiến trúc ở mỗi giai đoạn phát triển từ quan điểm nhận thức và thực hành kiến trúc. Không thể chỉ dựa vào một chính quyền hoặc cơ quan chuyên môn để áp đặt mọi thứ theo đúng các Quy chế quản lý nếu các quy định không phù hợp với thực tế.

Quản lý là một quá trình phức tạp, đòi hỏi phân biệt rõ ràng giữa Quản lý kiến trúc và các loại quản lý khác như Quản lý quy hoạch, Quản lý quy hoạch xây dựng, v.v... tùy thuộc vào yêu cầu và mục tiêu quản lý của từng cấp độ, loại hình và giai đoạn phát triển. Trong việc lập các Quy chế quản lý kiến trúc, cần tập trung vào việc kế thừa, tiếp nối các Quy chế, Quy định quản lý đã được cấp thẩm quyền phê duyệt (theo đồ án quy hoạch đô thị, thiết kế đô thị, quy hoạch nông thôn). Đồng thời, Quy chế quản lý kiến trúc cần dựa trên nền (căn cứ) Quy hoạch xây dựng đã được duyệt, bao gồm 02 mảng nội dung chính: "Quy phạm pháp luật cứng" và "Quy phạm xã hội mềm". Điều này giúp đảm bảo tính đa dạng theo đặc điểm và tính chất riêng về bản sắc văn hóa tại khu vực lập Quy chế quản lý kiến trúc.

Để xác định rõ các đặc điểm, tính chất riêng về bản sắc văn hóa dân tộc tại mỗi khu vực lập Quy chế quản lý kiến trúc, quá trình này luôn bắt đầu từ các Đơn vị tư vấn. Tại đây, các Kiến trúc sư, Kỹ sư hạ tầng, v.v... có vai trò và trách nhiệm phát triển và bảo tồn các không gian xanh và cảnh quan hiện trạng. Họ nhận diện các đặc tính, bản sắc chuyên biệt của mỗi địa phương trong thực tiễn để định hướng, kiểm soát phát triển kiến trúc tiên tiến, đậm đà bản sắc. Để có thể giải quyết vấn đề thực tiễn và đảm bảo tính khả thi, hiệu quả khi áp dụng, Quy chế quản lý kiến trúc cần có sự tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học trong các chuyên ngành liên quan và các ý kiến phản biện từ cộng đồng cư dân.

Cần thay đổi cách nhìn nhận, mô hình và phương thức quản lý phát triển đô thị và nông thôn trước đây. Mô hình quản lý "cứng" về xã hội chỉ dành cho một tầng lớp xã hội nhất định, với mục tiêu dân số ổn định được tính toán và "đóng" cả về chức năng sử dụng đất, không gian và hình thức, công năng của tòa nhà. Cần tạo ra mô hình quản lý phù hợp với thực tiễn và tương lai, tạo điều kiện để phát triển kiến trúc tiên tiến, linh hoạt và đáp ứng đầy đủ bản sắc văn hóa của từng địa phương.

3. Bãi bỏ Quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị

Hiện tại, Quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị được quy định trong Điều 60 của Luật Quy hoạch đô thị 2009 và được hướng dẫn bởi Nghị định 38/2010/NĐ-CP.

Tuy nhiên, Luật Kiến trúc 2019 đã có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2020 và đã bãi bỏ Quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị như sau: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quy hoạch đô thị số 30/2009/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 77/2015/QH13Luật số 35/2018/QH14 như sau: Bãi bỏ Điều 60.

Thay vào đó, Luật Kiến trúc 2019 đã bổ sung quy định về Quy chế quản lý kiến trúc. Cụ thể, Quy chế quản lý kiến trúc được lập cho các đô thị và điểm dân cư nông thôn của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

Quy chế quản lý kiến trúc phải đáp ứng các yêu cầu sau đây:

- Phù hợp với quy định tại các điều 10, 11 và 13 của Luật Kiến trúc 2019;

- Phù hợp với thiết kế đô thị đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt và tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia;

- Phù hợp với bản sắc văn hóa dân tộc, đặc điểm và điều kiện thực tế của địa phương.

Riêng Quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị đã được phê duyệt theo quy định của Luật Quy hoạch đô thị 2009 trước ngày 01/7/2020 sẽ tiếp tục được thực hiện đến hết ngày 31/12/2021.

Bài viết liên quan: Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là gì ? Hoạt động lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ? 

Mọi thắc mắc có liên quan, mời quý khách hàng liên hệ với Luật Minh Khuê qua số hotline: 1900.6162 hoặc qua email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin trân trọng cảm ơn!