1. Nội dung vụ án
Vào ngày 12 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang, đã tiến hành phiên xét xử phúc thẩm công khai về vụ án thụ lý số 222/2020/TLPT-DS ngày 30 tháng 3 năm 2020 liên quan đến tranh chấp về "Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất". Vụ án này là kết quả của một kháng cáo đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 260/2019/DS-ST ngày 06/12/2019 của Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.
Các bên tham gia trong phiên xét xử phúc thẩm bao gồm:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1948, có địa chỉ tại Ấp khu phố Cầu X, xã Hậu T, huyện Cái B, tỉnh Tiền Giang.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1960, được đại diện theo ủy quyền bởi chị Nguyễn Thị Ngọc Y, sinh năm 1987, có địa chỉ tại Ấp Hậu H, xã Hậu T, huyện Cái B, tỉnh Tiền Giang. Thủ tục ủy quyền được thực hiện qua văn bản ngày 11/6/2020.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan gồm:
+ Bà Trương Thị X, sinh năm 1947, có địa chỉ tại Ấp Hậu H, xã Hậu T, huyện Cái B, tỉnh Tiền Giang.
+ Chị Nguyễn Thị Ngọc Y, sinh năm 1987, có địa chỉ tại Ấp Hậu H, xã Hậu T, huyện Cái B, tỉnh Tiền Giang.
+ Anh Lê Thanh Q, sinh năm 1977, có địa chỉ tại Ấp Mỹ Phú A, xã Hậu Mỹ Phú, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.
- Người kháng cáo: Bà Trương Thị X, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đối với vụ án.
Theo án sơ thẩm, bà Nguyễn Thị T1 đã trình bày rằng ông Nguyễn Văn T2 sở hữu một lô đất có diện tích 2.050 m2, tọa lạc tại ấp Mỹ Phú A, xã Hậu Mỹ Phú, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang. Năm 2001, ông T2 đã chuyển nhượng cho bà một phần đất có diện tích 500 m2 với giá 12,5 chỉ vàng 24k. Sau đó, vào năm 2002, ông T2 tiếp tục chuyển nhượng cho bà thêm một phần đất có diện tích 500m2 với giá 10 triệu đồng. Tổng cộng, ông T2 đã chuyển nhượng cho bà một lô đất có tổng diện tích 1000m2. Cả hai lần giao dịch, họ chỉ thực hiện giao kèo bằng giấy tay, bà đã thanh toán đủ tiền vàng cho ông T2 và ông T2 đã giao đất cho bà để quản lý và canh tác từ khi chuyển nhượng cho đến hiện tại. Vào ngày 21/10/2013, ông T2 đã nhận được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho lô đất có số thửa 1787.
Tuy nhiên, bà Nguyễn Thị T1 hiện yêu cầu ông T2 tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng bằng cách chuyển tên quyền sử dụng đất diện tích 1000m2 cho bà. Hiện tại, lô đất đó vẫn đang ở tên của ông T2 trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số thửa 1787. Bà không đồng ý với yêu cầu này và cho rằng chị Nguyễn Thị Ngọc Y đang yêu cầu thực hiện việc này độc lập.
Ông Nguyễn Văn T2 trình bày rằng ông sở hữu một lô đất có diện tích 2.050 m2, nằm tại ấp Mỹ Phú A, xã Hậu Mỹ Phú, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang. Năm 2001, ông đã chuyển nhượng một phần đất có diện tích 500m2 cho bà T1 với giá 12,5 chỉ vàng 24k. Sau đó, vào năm 2002, ông tiếp tục chuyển nhượng thêm một phần đất có diện tích 500m2 cho bà T1 với giá 10.000.000 đồng, như lời trình bày của bà T1. Tổng cộng, ông T2 đã chuyển nhượng cho bà T1 một lô đất có tổng diện tích 1000m2. Ông không đồng ý với yêu cầu của bà T1 trong vụ án này.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của bà Trương Thị X, đã trình bày rằng gia đình chị sở hữu một phần đất có diện tích 2.050 m2, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho thửa số 1787. Đất này đang do cha của chị và ông Nguyễn Văn T2 đại diện hộ đứng tên quyền sử dụng đất. Việc cha của chị tự ý bán đất cho bà T1 đã xảy ra mà chị và mẹ chị (bà X) không biết. Chị không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà T1. Đồng thời, chị cũng đề nghị khởi kiện độc lập để yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông T2 và bà T1. Chị đồng ý trả lại số vàng và tiền mà ông T2 đã nhận trước đây.
Anh Lê Thanh Quyết, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, trình bày rằng vào năm 2019, anh đã thuê một phần đất diện tích khoảng 2000m2, đất này do ông Nguyễn Văn T2 đứng tên quyền sử dụng đất. Anh đang trồng ớt trên đất này, và hợp đồng thuê đất này được ký kết với thời hạn đến năm 2020. Hai bên đã thỏa thuận mua bán một cách miệng, không có hợp đồng bằng văn bản. Anh không có ý kiến về cuộc tranh chấp giữa hai bên và cũng không có yêu cầu gì trong việc giải quyết vụ án.
Tòa án sơ thẩm, dựa trên Bản án dân sự số 260/2019/DS-ST ngày 06/12/2019 của Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang, đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T1. Kết quả là buộc hộ ông Nguyễn Văn T2, bà Trương Thị X và chị Nguyễn Thị Ngọc Y thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích 1000 m2 cho bà Nguyễn Thị T1, trong khi hiện tại ông T2 đứng tên quyền sử dụng đất tại thửa số 1787, có tổng diện tích 2.050 m2, nằm tại ấp Mỹ Phú A, xã Hậu Mỹ Phú, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.
Bản án cũng đề cập đến việc nếu hộ ông T2 không thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định, thì bà T1 được quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để đăng ký và nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho diện tích 1000m2, theo quyết định của bản án. Bản án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện độc lập của chị Nguyễn Thị Ngọc Y và cũng đề cập đến án phí và quyền kháng cáo của đương sự.
Vào ngày 17/12/2019, bà Trương Thị X, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, đã nộp đơn kháng cáo yêu cầu Tòa phúc thẩm sửa toàn bộ nội dung của Bản án sơ thẩm tuyên ngày 06/12/2019 của Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang. Bà Trương Thị X không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T1 và yêu cầu Tòa án phúc thẩm tuyên Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ ngày 03/01/2001 vô hiệu. Bà cũng đồng ý trả lại cho bà T1 số vàng là 12,5 chỉ vàng và số tiền 10 triệu đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn (bà Nguyễn Thị T1) vẫn duy trì yêu cầu khởi kiện ban đầu, và bà Trương Thị X (người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan) tiếp tục đề nghị kháng cáo.
Đại diện của Viện kiểm sát đã phát biểu về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử. Họ đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, và cả hai bên tham gia tố tụng cũng tuân thủ đúng qui định pháp luật. Đối với nội dung đề nghị, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Trương Thị X và duy trì bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu toàn bộ các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, nói chuyện tại phiên tòa phúc thẩm, và nghe ý kiến của đại diện của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang, Tòa án đã hoàn tất xem xét vụ án.
2. Nhận định của Tòa án về nội dung và án phí
Nhận định 1:
Năm 2001, ông Nguyễn Văn T2 đã chuyển nhượng một phần đất có diện tích 500m2 cho bà Nguyễn Thị T1 với giá 12,5 chỉ vàng 24k. Vào năm 2002, ông T2 tiếp tục chuyển nhượng một phần đất khác có diện tích 500m2 cho bà T1 với giá 10 triệu đồng. Cả hai lần chuyển nhượng này đã diễn ra trên một lô đất có tổng diện tích 2.050 m2, nằm tại ấp Mỹ Phú A, xã Hậu Mỹ Phú, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.
Sau đó, vào ngày 21/10/2013, ông T2 đã nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho thửa số 1787 từ Ủy ban nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.
Khi diễn ra việc chuyển nhượng đất, cả hai bên chỉ thực hiện bằng giấy tay. Bà T1 đã trả đủ số tiền vàng cho ông T2, và ông T2 đã giao đất cho bà T1 để quản lý và canh tác từ khi chuyển nhượng đến nay. Tuy nhiên, bây giờ, bà T1 đòi hỏi hộ ông T2 tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng để sang tên quyền sử dụng đất diện tích 1000m2 cho bà. Điều này đang gây ra một tranh chấp vì ông T2 vẫn đang đứng tên quyền sử dụng đất tại thửa 1787. Bà T1 không đồng ý theo yêu cầu độc lập của chị Nguyễn Thị Ngọc Y, người cũng yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông T2 và bà T1, và chị Y đồng ý trả lại số vàng và tiền mà ông T2 đã nhận trước đây.
Ông Nguyễn Văn T2 thừa nhận việc ông đã chuyển nhượng đất cho bà Nguyễn Thị T1 như bà T1 đã trình bày, nhưng ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà T1.
Bà Trương Thị X và chị Nguyễn Thị Ngọc Y cho rằng ông T2 đã tự ý chuyển nhượng đất cho bà T1, trong khi bà X và chị Y không biết về việc này. Bà X và chị Y không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà T1. Chị Y đã yêu cầu khởi kiện độc lập để yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông T2 và bà T1, và chị đồng ý trả lại số vàng và tiền mà ông T2 đã nhận trước đây.
Nhận định 2:
Trường hợp liên quan đến việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị T1 và ông Nguyễn Văn T2 vào năm 2001 và 2002 liên quan đến một phần đất diện tích 1.000m2 trong tổng diện tích 2.050m2, tọa lạc tại ấp Mỹ Phú A, xã Hậu Mỹ Phú, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang. Ông T2 đã nhận được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa số 1787 từ Ủy ban nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang vào ngày 21/10/2013, điều mà ông T2 đã thừa nhận.
Tại phiên tòa sơ thẩm, chị Nguyễn Thị Ngọc Y (chị Y) trình bày rằng sau khoảng 5-6 năm mới biết rằng ông T2 đã bán đất cho bà T1. Tuy nhiên, trong hồ sơ vụ án, không có sự thể hiện rõ ràng của bà Trương Thị X (bà X) và chị Y có ý kiến phản đối, khiếu nại, hoặc tranh chấp việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông T2 và bà T1. Do đó, có thể coi rằng bà X và chị Y cũng đã đồng ý với việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông T2 và bà T1.
Bà T1 sau khi chuyển nhượng đất đã giao đủ số tiền vàng cho ông T2 và đã quản lý đất liên tục từ khi chuyển nhượng diễn ra cho đến hiện tại, tuy nhiên, chưa thực hiện thủ tục sang tên chuyển quyền sử dụng đất. Do đó, bà T1 yêu cầu hộ ông T2, bà X và chị Y thực hiện thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất và có cơ sở cho việc này được chấp nhận.
Nhận định 3:
Án sơ thẩm xét xử đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T1, buộc hộ ông Nguyễn Văn T2, bà Trương Thị X và chị Nguyễn Thị Ngọc Y thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng phần đất diện tích 1.000m2 cho bà Nguyễn Thị T1 trong tổng diện tích 2.050m2, tọa lạc tại ấp Mỹ Phú A, xã Hậu Mỹ Phú, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang, do ông Nguyễn Văn T2 đại diện hộ đứng tên quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện độc lập của chị Nguyễn Thị Ngọc Y yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông T2 và bà T1.
Án sơ thẩm xét xử dựa trên căn cứ phù hợp với Điều 129 và Điều 500 của Bộ luật dân sự, cùng với Án lệ số 04/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 06/4/2016 và được công bố theo Quyết định số 220/QĐ-CA ngày 06/4/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao về "Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất".
Bà Trương Thị X đã kháng cáo, tuy nhiên, bà không cung cấp được chứng cứ mới để chứng minh vụ án, và bà T1 không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của bà X. Do đó, không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà X.
Nhận định 4:
Về vấn đề án phí, bà Trương Thị X sinh năm 1947 thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Do đó, cấp sơ thẩm đã buộc hộ ông Nguyễn Văn T2, bà Trương Thị X và chị Nguyễn Thị Ngọc Y chịu án phí dân sự sơ thẩm không chính xác, và cấp phúc thẩm đã điều chỉnh lại. Điều này dựa trên xét xử ý kiến phát biểu và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, và Hội đồng xét xử đã chấp nhận nó.
3. Quyết định của Tòa án
Sau khi xem xét hồ sơ, Tòa án đã ra quyết định như sau:
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Trương Thị X và duy trì bản án dân sự sơ thẩm số 260/2019/DS-ST ngày 06 tháng 12 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T1. Buộc hộ ông Nguyễn Văn T2, bà Trương Thị X và chị Nguyễn Thị Ngọc Y thực hiện việc chuyển nhượng sang tên phần đất diện tích 1000 m2 cho bà Nguyễn Thị T1, mà hiện ông Nguyễn Văn T2 đại diện hộ đang đứng tên quyền sử dụng đất tại thửa số 1787, tờ bản đồ số HMPC3, diện tích chung thửa là 2.050 m2 tọa lạc tại ấp Mỹ Phú A, xã Hậu Mỹ Phú, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 1460-QSDĐ/409284 do Ủy ban nhân dân huyện Cái Bè cấp ngày 21/10/2003. Phần đất hộ ông T2 sang tên chuyển nhượng cho bà T1 có kích thước cụ thể theo hướng Đông, Tây, Nam, và Bắc.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện độc lập của chị Nguyễn Thị Ngọc Y.
Về án phí như sau:
- Ông Nguyễn Văn T2 và chị Nguyễn Thị Ngọc Y phải chịu 300 nghìn đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Chị Nguyễn Thị Ngọc Y phải chịu 300 nghìn đồng án phí dân sự sơ thẩm phần yêu cầu độc lập không được chấp nhận. Chị Y đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 10484 ngày 27/6/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang, khấu trừ xem như nộp xong.
- Hoàn lại bà Nguyễn Thị T1 300 nghìn đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 10328 ngày 30/5/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.
- Hoàn lại bà Trương Thị X 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002858 ngày 17/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Xem thêm: Bản án 363/2020/DS-PT ngày 22/09/2020 về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Liên hệ qua 1900.6162 hoặc lienhe@luatminhkhue.vn