NỘI DUNG YÊU CẦU

Bạn em và bạn B có quan hệ với nhau và bạn B có quay lại Video và Bạn B có dùng video và hình ảnh riêng tư đăng của bạn em đăng lên twitter để kêu gọi mọi người tham gia vào nhóm zalo để xem full video, nếu bạn nào muốn tham gia nhóm của bạn B thì mỗi người phải thanh toán phí 150k. Những hình ảnh đăng trên twitter bạn B có làm mờ và Video cũng không nhìn rõ mặt của bạn em lắm. Anh/Chỉ cho em hỏi trường như vậy bạn em có thể khởi kiện không ạ? Trường hợp này bạn em phải xử lý như thế nào? Anh/Chị hãy cho bạn em lời khuyên với ạ! 

Xin cảm ơn!

CƠ SỞ PHÁP LÝ

- Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi năm 2017;

- Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Nghị định 15/2020/NĐ-CP

NỘI DUNG TƯ VẤN

1. Quyền của cá nhân đối với hình ảnh

Tại Điều 31, Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về quyền của cá nhân đối với hình ảnh có quy định:

1. Cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình.

2. Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý; trong trường hợp người đó đã chết, mất năng lực hành vi dân sự, chưa đủ mười lăm tuổi thì phải được cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người đại diện của người đó đồng ý, trừ trường hợp vì lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng hoặc pháp luật có quy định khác.

3. Nghiêm cấm việc sử dụng hình ảnh của người khác mà xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh. 

Ngoài ra, tại Điều 34, Bộ luật Dân sự cũng quy định: “Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ. Cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án bác bỏ thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình”. Như vậy, hành vi của anh B là đăng video có có hình ảnh của người khác lên mạng xã hội, nếu hình ảnh đó được làm mờ nhưng người xem vẫn có thể nhận diện được đó là bạn của bạn mà hình ảnh đó chưa được sự đồng ý của bạn của bạn thì trước hết đã vi phạm quyền cá nhân đối với hình ảnh theo quy định của pháp luật.

2. Xử phạt vi phạm đối với hành vi tự ý đăng video SEX lên mạng xã hội

Ngoài ra, căn cứ theo nội dung vụ việc, trong trường hợp của vụ việc này anh B đã cấu thành 2 tội đó là tội truyền bá văn hóa phẩm đồ trụy theo Điều 253, Bộ luật Hình sự và tội làm nhục người khác theo Điều 121, Bộ luật Hình sự.

2.1 Tội tuyên truyền văn hóa phẩm đồi trụy

Trước hết về tội truyền bá văn hóa phẩm đồ trụy theo Điều 253, Bộ luật Hình sự. Về mặt khách quan, người phạm tội thực hiện hành vi truyền bá (phổ biến) cho người khác biết các vật phẩm có tính chất đồi trụy nhưng bằng nhiều thủ đoạn khác nhau như: làm ra, sao chép, lưu hành, vận chuyển, mua bán, tàng trữ nhằm phổ biến hoặc có hành vi khác. Trong vụ việc này, anh B đã làm ra vật phẩm văn hóa có tính chất đồi trụy bằng cách đăng video sex lên mạng xã hội twitter nhằm mục đích thu lợi bất chính.

Về mặt chủ quan, anh B đã thực hiện hành vi truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy của mình một cách cố ý. Mục đích của anh B là nhằm phổ biến văn hóa phẩm đồi trụy tới nhiều người khác nhau. Mục đích truyền bá của anh B xuất phát từ việc muốn kinh doanh thu lợi bất chính dựa trên văn hóa phẩm đồi trụy này. Đây chính là dấu hiệu bắt buộc của hành vi cấu thành tội phạm này. Theo Điều 253, Bộ luật Hình sự, anh B sẽ đủ yếu tố để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này khi thuộc một trong các trường hợp sau:

1. Người nào làm ra, sao chép, lưu hành, vận chuyển, mua bán, tàng trữ nhằm phổ biến sách, báo, tranh, ảnh, phim, nhạc hoặc những vật phẩm khác có nội dung khiêu dâm, đồi trụy hoặc hành vi khác truyền bá vật phẩm đồi trụy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dữ liệu được số hóa có dung lượng từ 01 gigabyte (GB) đến dưới 05 gigabyte (GB);

b) Ảnh có số lượng từ 100 ảnh đến dưới 200 ảnh;

c) Sách in, báo in hoặc vật phẩm khác có số lượng từ 50 đơn vị đến dưới 100 đơn vị;

d) Phổ biến cho từ 10 người đến 20 người;

đ) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

      ......

2.2 Tội làm nhục người khác

Ngoài dấu hiệu truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy thì nếu trong video có hình ảnh của người khác mà người này chưa đồng ý cho đăng, phát tán thì hành vi anh B trong vụ việc này còn có dấu hiệu của tội làm nhục người khác được quy định tại Điều 121, Bộ luật Hình sự. Theo quy định của pháp luật, người phạm tội phải có hành vi (bằng lời nói hoặc hành động) xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác.

Ý thức chủ quan của người phạm tội là mong muốn cho người bị hại bị nhục với nhiều động cơ khác nhau, có thể là để thu lợi bất chính và có thể là cả mục đích làm nhục người khác. Người bị hại phải bị xâm phạm nghiêm trọng đến nhân phẩm, danh dự. Trong vụ việc này, về mặt khách quan của tội phạm, hành vi đăng video sex lên mạng xã hội đã xúc phạm nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm của bạn của bạn.

Như vậy, trong vụ việc này anh  B có dấu hiệu vi phạm cả tội truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy và tội làm nhục người khác. Cụ thể, anh B sẽ có thẻ bị truy cứu trách nhiệm hình sự và mức hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội được quy định tại Điều 50, Bộ luật Hình sự.

Điều 253. Tội truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy

1. Người nào làm ra, sao chép, lưu hành, vận chuyển, mua bán, tàng trữ nhằm phổ biến sách, báo, tranh, ảnh, phim, nhạc hoặc những vật phẩm khác có tính chất đồi truỵ, cũng như có hành vi khác truyền bá văn hoá phẩm đồi truỵ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Vật phạm pháp có số lượng lớn;

b) Phổ biến cho nhiều người;

c) Đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm

….

Điều 121. Tội làm nhục người khác

1.Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm

.....

Nếu hành vi của anh B chưa đạt mức xử lý hình sự ở tội danh trên thì anh B sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 101 Nghị định 15/2020/NĐ-CP, cụ thể như sau:

Điều 101. Vi phạm các quy định về trách nhiệm sử dụng dịch vụ mạng xã hội; trang thông tin điện tử được thiết lập thông qua mạng xã hội

1. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi lợi dụng mạng xã hội để thực hiện một trong các hành vi sau:

a) Cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân;

b) Cung cấp, chia sẻ thông tin cổ súy các hủ tục, mê tín, dị đoan, dâm ô, đồi trụy, không phù hợp với thuần phong, mỹ tục của dân tộc;

c) Cung cấp, chia sẻ thông tin miêu tả tỉ mỉ hành động chém, giết, tai nạn, kinh dị, rùng rợn;

d) Cung cấp, chia sẻ thông tin bịa đặt, gây hoang mang trong Nhân dân, kích động bạo lực, tội ác, tệ nạn xã hội, đánh bạc hoặc phục vụ đánh bạc;

đ) Cung cấp, chia sẻ các tác phẩm báo chí, văn học, nghệ thuật, xuất bản phẩm mà không được sự đồng ý của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ hoặc chưa được phép lưu hành hoặc đã có quyết định cấm lưu hành hoặc tịch thu;

e) Quảng cáo, tuyên truyền, chia sẻ thông tin về hàng hóa, dịch vụ bị cấm;

g) Cung cấp, chia sẻ hình ảnh bản đồ Việt Nam nhưng không thể hiện hoặc thể hiện không đúng chủ quyền quốc gia;

h) Cung cấp, chia sẻ đường dẫn đến thông tin trên mạng có nội dung bị cấm.

 

Từ những căn cứ và phân tích trên anh B đang có dấu hiệu phạm tội hình sự với những tội danh: Tội tuyên truyền văn hóa phẩm đồi trụyTội làm nhục người khác, vậy bạn của bạn có thể làm đơn tố cáo/tố giác anh B ra cơ quan công an để yêu cầu cơ quan có thẩm quyền điều tra, truy cứu anh B về những hành vi trên. Khi có kết luận cửa cơ quan chức năng khẳng định anh B có dấu hiệu vi phạm pháp luật, ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm của bạn bạn thì bạn của bạn có thể làm đơn đề nghị anh B phải bồi thường thiệt hại về danh dự, nhân phẩm cho bạn của bạn.

3. Yêu cầu bồi thường thiệt hại khi bị xúc phạm danh dự, thiệt hại

Mức bồi thường thiệt hại về danh dự, nhân phẩm được quy định tại Điều 592 Bộ luật Dân sự năm 2015 như sau:

Điều 592. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm

1. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút;

c) Thiệt hại khác do luật quy định.

2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm không quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê đã sưu tầm và biên soạn. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng. Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.