Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 là một sự kiện chính trị trọng đại, diễn ra ngay sau thành công của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh cải cách hành chính và tinh gọn bộ máy, Báo cáo số 1831/BC-BNV ngày 03/03/2026 của Bộ Nội vụ đóng vai trò là văn bản định hướng cốt lõi, tổng kết công tác chuẩn bị và hướng dẫn chi tiết việc phân bổ số lượng đại biểu. Việc xác định số lượng đại biểu không chỉ đơn thuần là một thủ tục kỹ thuật mà còn là sự cụ thể hóa quyền làm chủ của nhân dân, đảm bảo tính đại diện cho các tầng lớp dân cư, các vùng miền và các đơn vị hành chính đang trong lộ trình sắp xếp, sáp nhập.

 

1. Nội dung trọng tâm của Báo cáo 1831/BC-BNV

Báo cáo 1831/BC-BNV được ban hành trong thời điểm cao điểm của công tác chuẩn bị bầu cử, phản ánh sự chỉ đạo sâu sát của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đối với Bộ Nội vụ và các địa phương. Nội dung của báo cáo tập trung vào việc đánh giá tiến độ thực hiện các mốc thời gian luật định, đồng thời tháo gỡ những khó khăn vướng mắc trong việc dự kiến cơ cấu, thành phần và phân bổ số lượng người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp.

Sự ra đời của báo cáo này dựa trên nền tảng của Chỉ thị số 46-CT/TW ngày 16/05/2025 của Bộ Chính trị, yêu cầu sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng đối với cuộc bầu cử để đảm bảo đây thực sự là ngày hội của toàn dân. Ý nghĩa của việc phân bổ số lượng đại biểu theo Báo cáo 1831/BC-BNV nằm ở việc tạo ra một cơ cấu đại diện hợp lý, ưu tiên tăng cường tỷ lệ đại biểu chuyên trách để nâng cao chất lượng hoạt động của chính quyền địa phương. Đồng thời, báo cáo cũng nhấn mạnh việc sử dụng dữ liệu từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để đảm bảo tính chính xác tuyệt đối trong việc xác định quy mô dân số — một yếu tố then chốt quyết định số lượng đại biểu.

 

2. Căn cứ pháp lý xác định số lượng Đại biểu HĐND các cấp

Hệ thống pháp lý quy định về số lượng đại biểu HĐND nhiệm kỳ 2026-2031 được xây dựng dựa trên sự kế thừa của Luật Tổ chức chính quyền địa phương và các văn bản hướng dẫn chuyên biệt từ Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Luật Tổ chức chính quyền địa phương và các văn bản sửa đổi

Nền tảng quan trọng nhất là Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, được sửa đổi, bổ sung vào các năm 2019 và 2025. Các quy định này xác định khung số lượng đại biểu cho từng cấp hành chính dựa trên quy mô dân số và đặc điểm của đơn vị hành chính đó (đô thị, nông thôn, miền núi, hải đảo).

Bên cạnh luật gốc, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 107/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 nhằm hướng dẫn cụ thể việc xác định dự kiến cơ cấu, thành phần và phân bổ số lượng người được giới thiệu ứng cử. Nghị quyết này là căn cứ trực tiếp để các địa phương triển khai các hội nghị hiệp thương, đảm bảo số dư người ứng cử theo quy định.

Tiêu chí về dân số và đặc thù địa phương

Điểm mới mang tính đột phá trong nhiệm kỳ này là việc xác định dân số dựa trên số liệu thống kê tại Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư tính đến ngày 31/08/2025. Điều này loại bỏ các sai sót từ phương pháp thống kê truyền thống và đảm bảo tính thống nhất trên toàn quốc.

Đối với các địa bàn đặc thù, pháp luật quy định các tiêu chí riêng biệt:

  • Xã miền núi: Việc xác định xã miền núi thuộc trách nhiệm của Bộ Dân tộc và Tôn giáo. Các đơn vị này thường có định mức dân số thấp hơn để được bầu một lượng đại biểu tương đương với xã đồng bằng, nhằm đảm bảo quyền lợi cho các vùng dân tộc thiểu số.
  • Xã hải đảo: Việc xác định xã hải đảo do Bộ Nội vụ thực hiện. Các đảo và đặc khu hải đảo có quy định riêng về số lượng đại biểu tối thiểu để duy trì bộ máy chính quyền tại những nơi có địa giới hành chính chia cắt.
  • Đơn vị hành chính đô thị: Các quận, phường tại các thành phố lớn như Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh được áp dụng các khung định mức cao nhất để đáp ứng nhu cầu quản lý phức tạp tại các siêu đô thị.

 

3. Chi tiết phân bổ số lượng đại biểu theo từng cấp hành chính

Việc tính toán số lượng đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 tuân thủ các khung định mức lũy tiến. Khi dân số tăng thêm đạt một ngưỡng nhất định, số lượng đại biểu sẽ được tăng thêm nhưng không vượt quá mức trần (tối đa) theo luật định.

Số lượng đại biểu HĐND cấp Tỉnh và Thành phố trực thuộc Trung ương

Cơ cấu đại biểu cấp tỉnh được thiết kế để đảm bảo sự lãnh đạo toàn diện của tỉnh ủy và tính đại diện của các huyện, thị xã trực thuộc.

Loại hình đơn vị hành chính cấp tỉnh Dân số cơ sở Số đại biểu cơ bản Định mức tăng thêm Số đại biểu tối đa
Tỉnh miền núi, vùng cao $\le 500.000$ dân 50 Thêm 50.000 dân/1 đại biểu 75
Tỉnh thông thường $\le 1.000.000$ dân 50 Thêm 70.000 dân/1 đại biểu 85
TP trực thuộc Trung ương $\le 1.200.000$ dân 50 Thêm 75.000 dân/1 đại biểu 85
Thành phố Hà Nội Không xét dân số 125 Không áp dụng 125
TP. Hồ Chí Minh Không xét dân số 125 Không áp dụng 125

Nguyên tắc tính số dư dân số được thực hiện nghiêm ngặt: Nếu số dân dư ra chưa đủ một định mức tăng thêm thì không được tính thêm đại biểu. Ví dụ, một tỉnh có 1.541.829 dân sẽ được bầu 70 đại biểu (50 đại biểu cho 500.000 dân đầu và 20 đại biểu cho 1.000.000 dân tiếp theo; phần dư 41.829 dân chưa đạt ngưỡng 50.000 nên không được tính).

Số lượng đại biểu HĐND cấp Xã, Phường

Cấp xã là nơi gần dân nhất, do đó việc phân bổ đại biểu tập trung vào việc đảm bảo mọi thôn, tổ dân phố đều có đại diện trong danh sách ứng cử.

Loại hình đơn vị cấp xã Dân số cơ sở Số đại biểu cơ bản Định mức tăng thêm Số đại biểu tối đa
Xã miền núi, hải đảo ≤ 5.000 dân 15 Thêm 1.000 dân/1 đại biểu (đến 10.000), sau đó 3.000 dân/1 đại biểu 30
Xã đồng bằng ≤ 10.000 dân 15 Thêm 2.000 dân/1 đại biểu (đến 20.000), sau đó 6.000 dân/1 đại biểu 30
Phường thuộc tỉnh ≤ 10.000 dân 15 Áp dụng tương tự xã đồng bằng 30
Phường thuộc TP trung ương ≤ 15.000 dân 15 Thêm 6.000 dân/1 đại biểu (đến 45.000), sau đó 7.000 dân/1 đại biểu 30

Tại các đơn vị hành chính phường, việc phân bổ đại biểu còn phải dựa trên số lượng khu phố. Thường trực HĐND phường có thể đề xuất số lượng đơn vị bầu cử và số đại biểu tại mỗi đơn vị để đảm bảo tính bao quát.

 

4. Nguyên tắc xác định số lượng đại biểu đối với các đơn vị hành chính thực hiện sắp xếp

Giai đoạn 2023-2025 và 2026-2030 là thời điểm thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính (Sáp nhập) theo các Nghị quyết của Bộ Chính trị và Quốc hội. Báo cáo 1831/BC-BNV đã nêu rõ các nguyên tắc riêng biệt cho các địa phương này.

Giữ nguyên số lượng lãnh đạo trong giai đoạn chuyển tiếp

Để đảm bảo hoạt động của chính quyền không bị gián đoạn, Nghị quyết 106/2025/UBTVQH15 quy định các đơn vị hành chính hình thành sau sắp xếp có thể giữ nguyên số lượng Phó Chủ tịch HĐND và Phó Trưởng Ban trong nhiệm kỳ đầu tiên, sau đó thực hiện giảm dần theo lộ trình 5 năm.

  • Cấp tỉnh sau sắp xếp: Nếu sáp nhập từ 02 đơn vị cấp tỉnh, có tối đa 03 Phó Chủ tịch HĐND. Nếu sáp nhập từ 03 đơn vị trở lên, có tối đa 04 Phó Chủ tịch HĐND.
  • Cấp xã sau sắp xếp: HĐND xã có 01 Phó Chủ tịch. Mỗi Ban của HĐND cấp xã được tính bình quân 02 Phó Trưởng Ban để giải quyết khối lượng công việc tăng thêm do địa bàn rộng.

Cách tính dân số và dự kiến cơ cấu

Số lượng đại biểu cho đơn vị mới được tính dựa trên tổng dân số của các đơn vị cũ cộng lại, lấy theo Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư tính đến 31/08/2025. Việc dự kiến cơ cấu, thành phần và phân bổ số lượng người ứng cử phải được thực hiện một cách công tâm, minh bạch, tránh tình trạng cục bộ địa phương giữa các đơn vị sáp nhập.

 

5. Quy trình triển khai và trách nhiệm của các cơ quan liên quan

Công tác bầu cử là một quy trình liên hoàn với sự tham gia của nhiều cơ quan nhà nước và tổ chức chính trị - xã hội.

Vai trò của Bộ Nội vụ và Ủy ban Thường vụ Quốc hội

Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan để hướng dẫn nghiệp vụ bầu cử, theo dõi tình hình và kịp thời báo cáo Chính phủ. Bộ Nội vụ cũng chịu trách nhiệm xác định danh sách các xã hải đảo làm căn cứ cho việc tính toán đại biểu.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành các nghị quyết hướng dẫn (Nghị quyết 106, 107) và giám sát việc thực hiện quy định về số lượng, cơ cấu đại biểu trên phạm vi cả nước. Thường trực HĐND cấp tỉnh có trách nhiệm gửi báo cáo dự kiến cơ cấu đại biểu của địa phương mình về Ủy ban Thường vụ Quốc hội để xem xét, cho ý kiến trước khi tiến hành hiệp thương.

Trách nhiệm của Ủy ban bầu cử và Mặt trận Tổ quốc

Ủy ban bầu cử các cấp chịu trách nhiệm ấn định số đơn vị bầu cử, công bố danh sách những người ứng cử và tổ chức việc bỏ phiếu. Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp chủ trì tổ chức các hội nghị hiệp thương để lựa chọn, lập danh sách những người đủ tiêu chuẩn ứng cử.

Thời hạn và các mốc thời gian quan trọng

Tiến độ bầu cử được thực hiện theo các mốc thời gian luật định rất nghiêm ngặt:

  • 31/08/2025: Thời điểm chốt số liệu dân số làm căn cứ bầu cử.
  • 01/11/2025: Thời hạn cuối cùng để Bộ Nội vụ và Bộ Dân tộc - Tôn giáo công bố danh sách xã miền núi, hải đảo.
  • Tháng 12/2025 - Tháng 02/2026: Tổ chức các hội nghị hiệp thương lần thứ nhất và thứ hai để dự kiến cơ cấu và lập danh sách sơ bộ.
  • Tháng 03/2026: Thời điểm Bộ Nội vụ ban hành Báo cáo 1831/BC-BNV tổng kết công tác chuẩn bị.

Việc phân bổ số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2026-2031 theo tinh thần Báo cáo 1831/BC-BNV và các nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thể hiện sự chuẩn bị kỹ lưỡng, khoa học và dân chủ. Qua việc áp dụng dữ liệu dân cư quốc gia và các khung định mức chi tiết cho từng loại hình đơn vị hành chính, cuộc bầu cử sắp tới hướng đến mục tiêu xây dựng chính quyền địa phương tinh gọn, hoạt động hiệu lực và hiệu quả. Việc đảm bảo các tỷ lệ cơ cấu về giới, độ tuổi và thành phần xã hội không chỉ giúp nâng cao tính đại diện của HĐND mà còn góp phần quan trọng vào việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong giai đoạn mới. Các địa phương cần bám sát các mốc thời gian và quy định pháp lý để tổ chức thành công ngày hội lớn của toàn dân, lựa chọn ra những đại biểu thực sự xứng đáng với niềm tin của cử tri.