Mục lục bài viết
- 1. Khái niệm bảo đảm quyền bào chữa của bị can trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
- 2. Nội dung bảo đảm quyền bào chữa của bị can trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
- 3. Bảo đảm quyền tự bào chữa của bị can trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
- 4. Bảo đảm quyền nhờ người bào chữa của bị can trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
- 5. Bảo đảm quyền được chỉ định người bào chữa của bị can trong những trường hợp pháp luật quy định
- 6. Bảo đảm thực hiện quyền, nghĩa vụ của người bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
1. Khái niệm bảo đảm quyền bào chữa của bị can trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
Theo Từ điển tiếng Việt, bảo đảm là: “Làm gì cho chắc chắn, thực hiện được, giữ gìn được hoặc có đầy đủ những gì cần thiết, sự bảo đảm thực hiện hoặc giữ được”.
Xuất phát từ quan niệm nêu trên, quan niệm phổ biến hiện nay về bảo đảm thực hiện quyền của người bị buộc tội nói chung, QBC của bị can nói riêng được hiểu là trách nhiệm của cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân trong việc xây dựng, thực hiện pháp luật để QBC của bị can được thực hiện trên thực tế. Do đó, bảo đảm QBC của bị can sẽ bao gồm các vấn đề về chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục và pháp lý.
Trong số những người tham gia TTHS thì bị can có vị trí, vai trò khá đặt biệt. Họ là những người bị xem xét buộc tội nhưng chưa bị coi là có tội theo nghĩa đầy đủ. Bởi theo quy định của pháp luật, một người chỉ bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi có bản án của tòa án kết tội với người đó đã có hiêu lực của pháp luật. Khác với những người tham gia tố tụng khác, bị can phải chịu sự buộc tội của các cơ quan THTT và rất có khả năng bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế. Trong khi đó, yêu cầu vừa phải bảo đảm tính khách quan, toàn diện vừa phải nhanh chóng, chính xác đã tạo ra những sức ép không nhỏ về bảo đảm tiến độ điều tra đối với các cơ quan THTT. Do đó, trong một số trường hợp, cơ quan, người tiến hành tố tụng vẫn có xu hướng hạn chế việc sử dụng các phương tiện bảo vệ hợp pháp của người bị buộc tội, trong đó đó có bị can để tránh sự phiền phức và mau chóng buộc tội được họ. Trong điều kiện đó, việc bảo vệ quyền lợi chính đáng của bị can là rất khó khăn, phụ thuộc hoàn toàn vào sự công tâm và khách quan của người THTT. Xuất phát từ địa vị pháp lý của bị can mà việc bảo đảm thực hiện QBC của họ có những đặc trưng riêng. Bên cạnh các điều kiện về cơ chế pháp lý, đòi hỏi nhận thức sâu sắc của người tiến hành tố tụng, khả năng đáp ứng của đội ngũ NBC, tổ chức lực lượng, quan hệ phối hợp và cơ sở vật chất, kỹ thuật để thực hiện.
Từ những nội dung nêu trên, có thể đưa ra khái niệm về bảo đảm QBC của bị can trong giai đoạn ĐTHS như sau: Bảo đảm quyền bào chữa của bị can là một nguyên tắc Hiến định được cụ thể hóa trong luật TTHS, xác định bị can có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; đồng thời cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có nhiệm vụ bảo đảm cho bị can thực hiện đầy đủ và triệt để quyền bào chữa theo quy định của pháp luật.
Từ khái niệm trên cho thấy, bảo đảm thực hiện QBC của bị can trong giai đoạn ĐTHS chính là trách nhiệm của CQĐT, ĐTV và cơ quan, tổ chức có thẩm quyền liên quan trong việc tôn trọng và bảo đảm triển khai trên thực tế để thực hiện đúng QBC của bị can đã được pháp luật quy định.
2. Nội dung bảo đảm quyền bào chữa của bị can trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
Như đã phân tích, QBC của bị can là tổng hợp những quyền pháp luật cho phép bị can được đưa ra những lý lẽ, tài liệu chứng cứ chứng minh nhằm phủ nhận một phần hoặc toàn bộ sự buộc tội từ phía cơ quan điều tra, điều tra viên nhằm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hoặc chứng minh sự vô tội trông vụ án hình sự. Theo quy định của pháp luật hiện nay, QBC của bị can được thực hiện thông qua hai hình thức là: Bị can tự bào chữa hoặc nhờ người bào chữa.
Do đó, nội dung bảo đảm QBC của bị can trong giai đoạn ĐTVAHS chính là việc CQĐT, ĐTV, tổ chức, cá nhân có liên quan có trách nhiệm bảo đảm cho bị can thực hiện đầy đủ, trọn vẹn quyền tự bào chữa và quyền nhờ người khác bào chữa cho mình và quyền của NBC khi họ tham gia TTHS trong giai đoạn ĐTVAHS.
3. Bảo đảm quyền tự bào chữa của bị can trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
Trong TTHS, tự bào chữa được hiểu là việc người bị buộc tội sử dụng tất cả kiến thức pháp luật của mình, vận dụng tất cả các quyền mà pháp luật cho phép để tự mình đưa ra lý lẽ, quan điểm biện minh nhằm phản bác lại toàn bộ hay một phần buộc tội của cơ quan THTT. Tự bào chữa được thực hiện trong suốt quá trình tố tụng, được pháp luật bảo đảm thực hiện thông qua quy định về quyền mà bị can được thực hiện.
Cụ thể theo quy định tại Điều 60 BLTTHS năm 2015, bị can có quyền: Được biết lý do mình bị khởi tố; Được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ quy định; nhận quyết định khởi tố bị can; quyết định thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can, quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, quyết định phê chuẩn quyết định thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can; quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; bản kết luận điều tra; quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ điều tra; quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án; bản cáo trạng, quyết định truy tố và các quyết định tố tụng khác theo quy định của BLTTHS; Trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội; Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá; Đề nghị giám định, định giá tài sản; đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật; Đọc, ghi chép bản sao tài liệu hoặc tài liệu được số hóa liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội hoặc bản sao tài liệu khác liên quan đến việc bào chữa kể từ khi kết thúc điều tra khi có yêu cầu; Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
4. Bảo đảm quyền nhờ người bào chữa của bị can trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
Mặc dù pháp luật quy định bị can được quyền tự bào chữa, những trên thực tế do hạn chế về kiến thức pháp luật, sự căng thẳng về tâm lý, rất ít người có thể thực hiện được quyền tự bào chữa. Do đó, việc bị can nhờ người khác bào chữa là cần thiết và hình thức này ngày càng trở nên phổ biến. Vai trò của NBC khi tham gia TTHS sẽ giúp bị can ổn định về tâm lý, làm sáng tỏ những tình tiết chứng minh vô tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đồng thời góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Như vậy, bảo đảm quyền được nhờ người bào chữa của bị can trong giai đoạn ĐTVAHS được biểu hiện ở hai nội dung sau: Bảo đảm cho bị can có đủ điều kiện cần thiết để bày tỏ nguyện vọng của mình cần sự trợ giúp pháp lý của NBC
Nguyên vọng đó phải được thể hiện trung thực, khách quan, không bị gò ép hay chịu tác động từ phía CQĐT, ĐTV. Khi bị can có nhu cầu, nguyện vọng cần sự trợ giúp pháp lý của NBC thì nguyện vọng đó phải được đáp ứng kịp thời. Nội dung này đỏi hỏi ngay sau khi khởi tố bị can, CQĐT, ĐTV phải phổ biến cho bị can biết là họ có quyền nhờ người khác bào chữa cho mình nếu không đủ khả năng tự bào chữa, trình tự, thủ tục để mời NBC. Đối với những trường hợp dù bị can không mời, nhưng pháp luật bắt buộc chỉ định NBC thì ĐTV phải chủ động, kịp thời liên hệ với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền để cử NBC theo quy định của pháp luật.
Thứ hai, khi bị can có nhu cầu, nguyện vọng cần sự trợ giúp pháp lý của NBC thì việc giải quyết thủ tục cho NBC tham gia tố tụng phải được tiến hành thuận lợi; quyền và nghĩa vụ của NBC khi tham gia tố tụng phải được bảo đảm thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Điều 74 BLTTHS năm 2015 quy định rõ thời điểm NBC tham gia tố tụng đối với bị can là từ khi khởi tố bị can.
5. Bảo đảm quyền được chỉ định người bào chữa của bị can trong những trường hợp pháp luật quy định
Tại Điều 76 BLTTHS năm 2015 đã quy định rõ: Trong các trường hợp sau đây nếu người bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích của họ không mời người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải chỉ định người bào chữa cho họ: Bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật hình sự quy định mức cao nhất của khung hình phạt là 20 năm tù, tù chung thân, tử hình; Người bị buộc tội có nhược điểm về thể chất mà không thể tự bào chữa; người có nhược điểm về tâm thần hoặc là người dưới 18 tuổi.
Như vậy, trong trường hợp này, trách nhiệm của CQĐT là phải yêu cầu cơ quan, tổ chức cử NBC cho bị can. Tùy theo, từng trường hợp cụ thể, việc yêu cầu sẽ được thực hiện như sau: Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải yêu cầu hoặc đề nghị: Đoàn luật sư phân công tổ chức hành nghề luật sư cử người bào chữa; Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước cử Trợ giúp viên pháp lý, luật sư bào chữa cho người thuộc diện được trợ giúp pháp lý; Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận cử bào chữa viên nhân dân bào chữa cho người bị buộc tội là thành viên của tổ chức mình. Ngoài việc tham gia bào chữa do tổ chức hành nghề luật sư cử, luật sư còn có thể tham gia tố tụng với tư cách là cộng tác viên của Trung tâm trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý.
6. Bảo đảm thực hiện quyền, nghĩa vụ của người bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
Trong giai đoạn ĐTVAHS, bảo đảm quyền của NBC của bị can là việc CQĐT bảo đảm cho NBC thực hiện trên thực tế các quyền sau: Gặp, hỏi bị can; Có mặt khi lấy lời khai, khi hỏi cung bị can và nếu người có thẩm quyền tiến hành lấy lời khai, hỏi cung đồng ý thì được hỏi bị can. Sau mỗi lần lấy lời khai, hỏi cung của người có thẩm quyền kết thúc thì người bào chữa có thể hỏi, bị can; Có mặt trong hoạt động đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói và hoạt động điều tra khác theo quy định của BLTTHS; được cơ quan có thẩm quyền THTT báo trước về thời gian, địa điểm lấy lời khai, hỏi cung và thời gian, địa điểm tiến hành hoạt động điều tra khác theo quy định của BLTTHS; Xem biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình, quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình bào chữa; Đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật; đề nghị thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; Đề nghị tiến hành hoạt động tố tụng theo quy định của BLTTHS; đề nghị triệu tập người làm chứng, người tham gia tố tụng khác, người có thẩm quyền THTT; Thu thập, đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu; Kiểm tra, đánh giá và trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền THTT kiểm tra, đánh giá; Đề nghị cơ quan có thẩm quyền THTT thu thập chứng cứ, giám định bổ sung, giám định lại, định giá lại tài sản; Đọc, ghi chép và sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa từ khi kết thúc điều tra; Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền THTT.
Đồng thời, trách nhiệm bảo đảm QBC của bị can trong giai đoạn điều tra còn là việc kiểm tra, giám sát để NBC thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật, gồm: Sử dụng mọi biện pháp do pháp luật quy định để làm sáng tỏ những tình tiết xác định người bị buộc tội vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can; giúp người bị can về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ;
Không được từ chối bào chữa cho người bị buộc tội mà mình đã đảm nhận bào chữa nếu không vì lý do bất khả kháng hoặc không phải do trở ngại khách quan; Tôn trọng sự thật; không được mua chuộc, cưỡng ép hoặc xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật;
Trường hợp chỉ định NBC theo quy định tại khoản 1 Điều 76 của BLTTHS năm 2015 thì phải có mặt theo yêu cầu của CQĐT, Viện kiểm sát; không được tiết lộ bí mật điều tra mà mình biết khi thực hiện bào chữa; không được sử dụng tài liệu đã ghi chép, sao chụp trong hồ sơ vụ án vào mục đích xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân;
Không được tiết lộ thông tin về vụ án, về người bị buộc tội mà mình biết khi bào chữa, trừ trường hợp người này đồng ý bằng văn bản và không được sử dụng thông tin đó vào mục đích xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
So với quy định trước đây, BLTTHS năm 2015 đã bổ sung một số quy định mới về quyền, nghĩa vụ của NBC trong giai đoạn điều tra. Nhận thức đầy đủ và toàn diện về quyền, nghĩa vụ của NBC nêu trên sẽ giúp CQĐT, ĐTV chủ động, công minh trong việc đưa ra các quyết định, hành vi tố tụng nhằm bảo đảm cho bị can thực hiện đầy đủ QBC của mình theo quy định pháp luật.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty Luật Minh Khuê