Căn cứ pháp lý:

- Hiến pháp năm 1959;

- Hiến pháp năm 1980;

- Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001);

- Hiến pháp năm 2013;

- Nghị quyết sô 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về cải cách tư pháp.

1. Nhà nước pháp quyền trong chính thể cộng hòa

Nhà nước pháp quyền là vị thế pháp lý hay một hệ thống thể chế, nơi mỗi người đều phải phục tùng và tôn trọng luật pháp, từ cá nhân đơn lẻ cho tới cơ quan công quyền. Nhà nước pháp quyền như vậy liên hệ chặt chẽ với sự tôn trọng trật tự thứ bậc của các quy phạm, tôn trọng sự phân chia quyền lực và tôn trọng các quyền căn bản.

Nhà nước pháp quyền hình thức Nhà nước cộng hòa trong đó Nhà nước xây dựng nên pháp luật để quản lý xã hội và tự đặt mình dưới pháp luật. Mọi cơ quan Nhà nước đều phải được tổ chức và chỉ được phép hoạt động trong khuôn khổ quy định của pháp luật. Công dân tuân thủ, thi hành và sử dụng pháp luật. Quyền công dân được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Trong Nhà nước pháp quyền, ba ngành lập pháp, hành pháp và tư pháp độc lập với nhau. Vai trò của tòa án được đề cao. Điều kiện để có một Nhà nước pháp quyền là phải có một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đồng bộ, phù hợp và kịp thời. Điều này đòi hỏi công tác xây dựng pháp luật và pháp điển hóa không ngừng được thực hiện. Nhà nước pháp quyền dựa trên nguyên tắc dân chủ. Dân chủ là nền tảng để hoàn chỉnh pháp luật. Pháp luật là công cụ để bảo vệ quyền công dân.

2. Khái niệm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Tại Điều 2 Hiến pháp 1992 (sửa đổi 2001) đã đưa ra khái niệm "Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa". Tuy nhiên trên thực tế, không có sự giải thích rõ ràng về Nhà nước Pháp quyền Xã hội Chủ nghĩa bằng văn bản. Khái niệm này lần đầu tiên được nhắc đến do ông Đỗ Mười tại Hội nghị lần thứ II, Ban chấp hành Trung ương khóa VII, ngày 29-11-1991. Gần đây được bàn đến trong các cuộc họp cấp cao ở Việt Nam. Điển hình là trong bài diễn văn tại phiên khai mạc kỳ họp đầu tiên của QH khóa XII vào ngày 19/7/2007, ông Nông Đức Mạnh đã lần đầu tiên chính thức công bố nội dung của Học thuyết Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa. Theo quan điểm của GS.TS. Nguyễn Duy Quý, nhà nước pháp quyền không phải là một kiểu nhà nước (giống như kiểu nhà nước chiếm hữu nô lệ, kiểu nhà nước phong kiến, kiểu nhà nước tư bản chủ nghĩa hay kiểu nhà nước xã hội chủ nghĩa) mà là một phương thức tổ chức quyền lực nhà nước tiến bộ mà bất kì nhà nước nào, thể chế chính trị nào muốn đạt đến trình độ văn minh đều phải hướng tới.

3. Về cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước

Trước khi có Hiến pháp năm 2013, ở nước ta, quyền lực nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Giữa các cơ quan nhà nước có sự kiểm tra, giám sát lẫn nhau. Quốc hội trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình giám sát hoạt động của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ trong việc thi hành Hiến pháp và pháp luật; giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hội đồng nhân dân trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình giám sát hoạt động của Ủy ban nhân dân, các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cùng cấp, giám sát hoạt động của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp dưới trực tiếp, của Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp. Thông qua hoạt động giám sát, nếu phát hiện văn bản quy phạm pháp luật hoặc hoạt động thi hành pháp luật của chủ thể chịu sự giám sát trái pháp luật, cơ quan quyền lực nhà nước theo thẩm quyền sẽ bãi bỏ, đình chỉ văn bản hoặc bãi nhiệm, phê chuẩn việc miễn nhiệm, cách chức người đứng đầu cơ quan liên quan. Các cơ quan nhà nước cấp trên theo chiều dọc đều có quyền giám sát, kiểm tra các cơ quan nhà nước cấp dưới; các cơ quan nhà nước có thẩm quyền chung đều có quyền kiểm tra việc tuân thủ pháp luật của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền riêng; các cơ quan tư pháp ở các mức độ khác nhau đều tham gia kiểm tra việc thực hiện quyền lực nhà nước.

Điều này cho thấy, trước khi có Hiến pháp năm 2013, mặc dù chưa ghi nhận nội dung kiểm soát quyền lực nhà nước ở tầm hiến định song cách thức kiểm tra, giám sát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lực nhà nước đã có và ngày càng được củng cố, kiện toàn. Việc bổ sung, khẳng định nội dung “kiểm soát quyền lực” trong Hiến pháp năm 2013 thể hiện sự phát triển về nhận thức trong việc thừa nhận nguyên tắc cơ bản của Nhà nước pháp quyền. Nội dung “kiểm soát quyền lực” được đưa vào Hiến pháp chính là sự bổ sung và hoàn thiện nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước ở nước ta, là cơ sở cho việc tiếp tục tăng cường cơ chế kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trong giai đoạn tới.

3. Vể bảo đảm vai trò của Hiến pháp và hệ thống pháp luật

Hiến pháp được xác định giữ vị trí tối thượng trong hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội; mọi văn bản quy phạm pháp luật phải phù hợp và không được trái với Hiến pháp. Nhận thức được vị trí và vai trò quan trọng của Hiến pháp trong Nhà nước pháp quyền, kể từ khi thực hiện công cuộc đổi mới đất nước (năm 1986) đến nay, Quốc hội đã 2 lần tiến hành hoạt động lập hiến (ban hành Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013) và 3 lần tiến hành hoạt động sửa đối Hiến pháp (năm 1988, 1989 - sửa đổi Hiến pháp năm 1980) và năm 2001 (sửa đổi Hiến pháp năm 1992).

Quốc hội đã ban hành Hiến pháp năm 1992 trên cơ sở sửa đổi toàn diện Hiến pháp năm 1980 để kịp thời thể chế hóa đường lối đổi mới của Đảng tại các Đại hội lần thứ VI, VII và Cương lĩnh năm 1991. Bản Hiến pháp năm 1992 đã tạo cơ sở hiến định cho việc đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước và mở đường cho sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế. Tại kỳ họp thứ 10, ngày 25 tháng 12 năm 2001, Quốc hội đã xem xét, thông qua Nghị quyết về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992 nhằm tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc tiếp tục đổi mới hệ thống chính trị, cải cách bộ máy nhà nước, phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tiếp đó, trên cơ sở kế thừa được các giá trị to lớn của các bản Hiến pháp năm 1946, năm 1959, năm 1980 và năm 1992, đồng thời thể chế hóa các quan điểm, phương hướng, nội dung phát triển đã được khẳng định trong trong Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011), ngày 28 tháng 11 năm 2013, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (Hiến pháp năm 2013). Đây là sự kiện chính trị - pháp lý đặc biệt quan trọng, đánh dấu một bước tiến mới trong lịch sử lập hiến của nước ta. Như vậy, có thể thấy rằng, nếu như Hiến pháp năm 1992 là Hiến pháp của thời kỳ đầu đổi mới thì Hiến pháp năm 2013 là Hiến pháp của thời kỳ đổi mới toàn diện, đồng bộ cả về kinh tế và chính trị. Hiến pháp năm 2013 thể hiện rõ và đầy đủ hơn bản chất dân chủ, tiến bộ của Nhà nước và chế độ ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, về xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân do Đảng lãnh đạo, quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, quy định rõ ràng, đúng đắn, đầy đủ và khái quát hơn về kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ và môi trường, bảo vệ Tổ quốc, tổ chức bộ máy nhà nước, về hiệu lực và quy trình sửa đối Hiến pháp.

Cùng với hoạt động lập hiến, Nhà nước ta đã không ngừng xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo khung pháp lý cho sự phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, chế độ sở hữu và các hình thức sở hữu, địa vị pháp lý của các doanh nghiệp, thương gia, quyền tự do kinh doanh và tự do hợp đồng, các cơ chế khuyến khích và bảo đảm đầu tư, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội đã từng bước được xác lập. Hệ thống pháp luật đã cơ bản được hoàn thiện cả về nội dung và hình thức, số lượng và chất lượng văn bản quy phạm pháp luật. Chỉ tính riêng hoạt động lập pháp của Quốc hội, từ năm 1987 đến nay, Quốc hội đã ban hành hơn 300 đạo luật . Trong những năm gần đây, số lượng luật được Quốc hội ban hành ngày càng nhiều, tăng gấp ba lần so với thời kỳ trước đổi mới, trong đó có nhiều đạo luật quan trọng như Bộ luật dân sự, Bộ luật tố tụng dân sự, Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật lao động, Luật đất đai, Luật nhà ở, Luật doanh nghiệp, Luật sở hữu trí tuệ, Luật phòng, chống tham nhũng... Trong mỗi giai đoạn phát triển, để phù hợp với thực tế cuộc sống, Quốc hội đã quyết định sửa đổi, bổ sung nhiều đạo luật quan trọng như Bộ luật dân sự ban hành năm 1995, sửa đổi cơ bản, toàn diện năm 2005, Luật đất đai ban hành năm 1993 và sửa đổi, cơ bản toàn diện năm 2003, sau đó vào năm 2013... Nhìn chung, chất lượng của các văn bản quy phạm pháp luật đã được nâng lên, bảo đảm tính thống nhất nội tại, rõ ràng, cụ thể, minh bạch và có tính khả thi cao.

Việc thi hành Hiến pháp và các đạo luật được bảo đảm bởi chính Nhà nước, cán bộ, công chức trong cơ quan nhà nước và mọi tổ chức, cá nhân trong xã hội. Nghĩa vụ tôn trọng và tuân theo Hiến pháp, pháp luật không loại trừ đối với bất cứ ai. Hành vi vi phạm pháp luật bị phát hiện và xử lý kịp thời, bảo đảm pháp chế XHCN.

4. Về sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước

Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo nhà nước, lãnh đạo xã hội, là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng trong thực tiễn cách mạng Việt Nam là một tất yếu lịch sử khách quan, được khẳng định nhất quán trong các văn kiện Đại hội Đảng, được Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 và Hiến pháp năm 2013 ghi nhận.

Sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước là lãnh đạo chính trị, quyết định phương hướng chính trị của Nhà nước, bảo đảm cho Nhà nước thực sự là tổ chức thực hiện quyền lực của Nhân dân, thực sự của dân, do dân và vì dân. Để thực hiện thành công công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng XHCN, Nhà nước triển khai tổ chức thực hiện các nghị quyết, chủ trương của Đảng bằng các hoạt động quản lý nhà nước, tổ chức tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại.

Việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước trong 30 năm qua đã có những bước tiến nhất định. Các nghị quyết của Đảng đã từng bước làm rõ những phương hướng cơ bản mối quan hệ lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước trên các lĩnh vực. Chất lượng lãnh đạo của Đảng được nâng cao hơn, tình trạng tổ chức Đảng bao biện làm thay Nhà nước đã có bước giảm đáng kể, việc dân chủ hoá phương thức lãnh đạo của Đảng có bước tiến quan trọng, trong khi vai trò lãnh đạo của Đảng được giữ vững và tăng cường thì vai trò của Nhà nước, Mặt trận, đoàn thể ngày càng được phát huy. Nhờ vậy, quyền làm chủ của nhân dân được thực hiện ngày càng tốt hơn. Cụ thể như sau:

Đối với Quốc hội, sự lãnh đạo của Đảng thể hiện ở việc xây dựng đường lối chiến lược, xác định các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu làm cơ sở, định hướng để Quốc hội thảo luận, quyết định. Chẳng hạn, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị đã ra các nghị quyết để định hướng cho hoạt động của Quốc hội trong việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp, ban hành các đạo luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Sự lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội thực hiện theo phương thức Đảng xác định định hướng, nguyên tắc, quan điểm, chủ trương, giải pháp lớn, còn để Quôc hội thảo luận và quyết định theo pháp luật chứ không áp đặt. Chính vì vậy, hoạt động của Quốc hội ngày càng chất lượng, thực chất và thu hút sự quan tâm ngày càng rộng rãi của dư luận xã hội.

Đối với Chính phủ, Đảng đã có những sự đổi mới quan trọng về phương thức lãnh đạo để ngày càng phù hợp với vị trí và trách nhiệm của Đảng cầm quyền cũng như phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của Chính phủ là cơ quan công quyền, vừa không ngừng tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, vừa nâng cao hiệu lực quản lý, điều hành của Chính phủ; giảm bớt tình trạng bao biện, làm thay, "lấn sân" giữa Đảng và Chính phủ. Sự lãnh đạo của Đảng đối với Chính phủ thế hiện ở chỗ: Đảng chỉ quyết định những vấn đề về quan điểm, tư tưởng, chủ trương lớn để chỉ đạo, định hướng cho Chính phủ tổ chức thực hiện theo quy định của pháp luật. Đảng không quyết định những chủ trương cụ thể thuộc phạm vi quản lỷ của Chính phủ, không làm thay chính quyển.

Đối với Toà án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân, Đảng đã có chủ trương cải cách tư pháp. Thực hiện chủ trương này, nhiều quy định của pháp luật về tổ chức và hoạt động của Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân đã được sửa đổi, bổ sung hoặc xây dựng mới, tạo cơ sở pháp lý cho việc đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan này. Đảng lãnh đạo ngành Tòa án nhưng tôn trọng tính độc lập trong xét xử của Tòa án. Khi xét xử, Thẩm phán, Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật (Điều 103 Hiến pháp năm 2013). Tình trạng cấp ủy can thiệp vào công tác xét xử của Tòa án đã giảm nhiều.

5. Về đội ngũ cán bộ, công chức

Trong quá trình đổi mới, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm sâu sắc đến việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Trải qua quá trình phát triển, đội ngũ cán bộ, công chức đã từng bước trưởng thành, công tác quản lý đã dần đi vào nền nếp, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Năm 1998, Pháp lệnh cán bộ, công chức được ban hành (sửa đổi, bổ sung năm 2003) đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc tổ chức và quản lý đội ngũ cán bộ, công chức, xây dựng nền hành chính phục vụ nhân dân, từng bước đổi mới cơ chế quản lý cán bộ, công chức, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Sau 10 năm thực hiện Pháp lệnh cán bộ, công chức, để tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước, Quốc hội đã nâng Pháp lệnh cán bộ, công chức lên thành Luật cán bộ, công chức và ban hành Luật viên chức. Các quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức đã phân định rõ cán bộ, công chức, viên chức làm việc trong khu vực hành chính, khu vực sự nghiệp với những người làm việc trong khu vực doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế; xác định và phân định các nhóm cán bộ, công chức, viên chức phù hợp với đặc thù của thể chế chính trị ở Việt Nam và mô hình tổ chức bộ máy nhà nước; nghĩa vụ, quyền lợi và những việc cán bộ, công chức, viên chức được và không được làm đã được quy định.

Đội ngũ cán bộ, công chức từng bước được chuẩn hóa, nâng cao về chất lượng, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính và đã mang lại những kết quả nhất định, nền hành chính phục vụ đã từng bước khắc phục tình trạng quan liêu, bao cấp. Việc tuyển dụng cán bộ, công chức, viên chức được chuyển từ chế độ phân phối học sinh tốt nghiệp và phân công công tác theo kế hoạch trước đây sang chế độ thi tuyển theo nguyên tắc cạnh tranh, công khai, khách quan; việc thăng tiến về mặt chức nghiệp của cán bộ, công chức, viên chức đều phải qua kỳ thi nâng ngạch; đã từng bước thay đổi tư duy về việc bổ nhiệm cán bộ, công chức, viên chức giữ các chức danh lãnh đạo, quản lý theo hướng động với quy định thời hạn bổ nhiệm có nhiệm kỳ 5 năm, hết thời hạn có đánh giá, bổ nhiệm lại hoặc không bổ nhiệm lại; quy định và đưa vào nền nếp về chế độ đánh giá cán bộ, công chức, viên chức và thực hiện chế độ khen thưởng, kỷ luật và các quy trình, thủ tục, thẩm quyền cụ thể; chế độ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức được coi trọng; việc sử dụng cán bộ, công chức, viên chức phải căn cứ vào tiêu chuẩn, nhu cầu...

Về cơ bản, đội ngũ cán bộ, công chức có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định với mục tiêu lý tưởng XHCN, quan điểm lập trường đúng đắn, trung thành với Tổ quốc, với nhân dân. Hoạt động công vụ, đội ngũ cán bộ, công chức đã góp phần thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, tạo tiền đề cho việc hội nhập sâu, rộng trên các lĩnh vực kinh tế - văn hóa - xã hội với các nước trong khu vực và trên thế giới.