1. Sự ra đời của Hiến pháp

Hiến pháp là văn kiện chính trị - pháp lý đặc biệt quan trọng, là nhân tố bảo đảm sự ổn định chính trị, xã hội và chủ quyền của quốc gia, thể hiện bản chất dân chủ, tiến bộ của Nhà nước và chế độ. Là đạo luật cơ bản, luật gốc của Nhà nước, Hiến pháp có hiệu lực pháp lý cao nhất trong hệ thống pháp luật. Theo dòng lịch sử lập hiến của nước ta, kể từ khi thành lập nước Việt Nam

Thuật ngữ Hiến pháp (Constitution) ngày nay có nguồn gốc từ tiếng Latinh “Constutio”, đã xuất hiện trong nhà nước La mã cổ đại, được một số Hoàng đế La mã đùng để chỉ các quyết định của mình trong xã hội phong kiến. Ở một số các quốc gia Phương Tây cũng đã tồn tại một số văn bản kiểu hiến pháp (liên quan tới tổ chức quyền lực nhà nước) thể hiện sự thỏa hiệp giữa các vương triều chuyên chế với các lãnh chúa, thừa nhận một số quyền đối với lãnh địa, vùng đất nhất định.

Văn bản đầu tiên có dấu hiệu mang tính hiến pháp xuất hiện trên thế giới là Magna Carta, tức là bản Đại Hiến chương của nước Anh (The Great Chapter of Freedom) ra đời năm 1215, với nội dung ghi nhận các quyền tự do mà giới quý tộc Anh thúc ép vua Jonh ban hàng và nhà vua cũng phải chịu sự kiểm soát của luật. Văn bản này cũng được coi là sự khởi đầu cho việc hạn chế quyền lực của vương qyền, thừa nhận thiết chế tồn tại bên cạnh nhà vua và đề cao pháp trị. Các hiến pháp hiện đại sau này chịu ảnh hưởng rất lớn từ những nội dung của văn bản này, đặc biệt là Bản Tuyên ngôn độc lập của Mỹ năm 1776 

Sau các cuộc cách mạng tư  sản, các văn bản mang tính hiến pháp xuất hiện nhiều hơn như các văn bản quy định “ Hình thức cai quả nhà nước Anh, Scotland, Ailen”, năm 1653. Đây được xem là sản phẩm của cách mạng tư sản Anh (1640-1654), các bản Tuyên ngôn độc lập của Mỹ 1776, Tuyên ngôn về nhân quyền và dân quyền của Pháp năm 1789.

- Sự phát triển của hiến pháp

+ Bản hiến pháp thực sự ra đời đầu tiên trên thế thới là bản Hiến pháp Mỹ 1787, tiếp đó là các bản Hiến pháp của Pháp năm 1971, Hiến pháp Balan 1791, Hiến pháp Hà Lan 1814, Hiến pháp Bỉ 1831. Sau đó, cùng với sự hình thành các quốc gia mới, sự trao trả thuộc địa của các nước đế quốc và phong trào giải phóng dân tộc của các nước thuộc địa đã cho ra đời một loạt các quốc gia mới cùng các bản Hiến pháp các nước. 

 

2. Các học thuyết về hiến pháp

Học thuyết về hiến pháp được hiểu là các quan điểm các nhân của các nhà nghiên cứu hiến pháp để hiểu rõ hơn về hiến pháp, vậy nên các học thuyết về hiến pháp giúp các thẩm phán hiểu sâu hơn về các vấn đề hiến pháp. Theo triết gia John Locke cho rằng: quyền lực nhà nước là quyền lực của nhân dân. Nhân dân nhường một phần quyền lực cho nhà nước qua khế ước để chống độc tài phải thực hiện phân quyền. John Locke phân quyền lực nhà nước thành: lập pháp, hành pháp và liên hợp. Sau đó nhà luật học người pháp Montesquieu đã phát triển học thuyết này.

Các học thuyết về hiến pháp giúp chỉ rõ cơ sở xác lập các tư tưởng chính thống hay các căn cứ khoa học để giải quyết vấn đề hiến pháp và còn giúp giải thích các điều khoản của hiến pháp.

Học thuyết hiến pháp đóng vai trò thiết thực trong hệ thống các nguồn luật hiến pháp.

 

3. Mối quan hệ giữa điều ước quốc tế và hiến pháp.

Hiến pháp ở mỗi quốc gia là đạo luật có giá trị pháp lý cao nhất trong hệ thống pháp luật quốc gia. Hiến pháp phản ánh mối quan hệ giữa pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế. Theo đó Hiến pháp và Điều ước quốc tế có mối quan hệ mật thiết với nhau. Các Điều ước quốc tế phải hợp hiến và không được trái với Hiến pháp.

Tuy nhiên, Hiến pháp và các Điều ước quốc tế cũng tồn tại những xung đột. Mặc dù không qui định trong Hiến pháp nhưng nhiều quốc gia thường có qui trình kiểm tra tính hợp hiến của điều ước quốc tế trước khi gia nhập, chỉ phê chuẩn các điều ước quốc tế không trái với Hiến pháp. Trong trường hợp xung đột với ĐUQT thì phải bổ sung, sửa đổi Hiến pháp trước khi phê duyệt.

VD: Pháp đã phải sửa đổi Hiến pháp 4 lần để kí kết và gia nhập điều ước quốc tế như: Hiệp ước thành lập tòa Hình sự Quốc tế (ICC), hiệp ước Amsterdam, hiệp ước Masstricht,...

Trong quá trình áp dụng các điều ước quốc tế có thể xảy ra xung đột giữa Hiến pháp với các ĐUQT mà các nước đã chấp nhận tham gia. Theo thông lệ, các nước đều tuyên bố Hiến pháp là đạo luật có giá trị pháp lý tối cao trong trật tự pháp luật, do đó có giá trị pháp lý cao hơn các công ước quốc tế. Theo trường phái nhất nguyên, Hiến pháp vẫn được coi là đạo luật tối cao của một trật tự pháp luật thống nhất. Hoa Kỳ theo trường phái này, theo đó Hiến pháp có giá trị pháp lý cao hơn các công ước quốc tế. Theo trường phái nhị nguyên, thì việc chuyển hóa các ĐUQT trong pháp luật quốc nội là bắt buộc cho phép đảm bảo tính phù hợp của các quy tắc pháp luật quốc nội, tính ưu thế của pháp luật quốc nội so với pháp luật quốc tế. Trong trường hợp này, Hiến pháp đương nhiên có giá trị tối cao so với các công ước quốc tế.

 

4. Vai trò của hiến pháp đối với mỗi quốc gia

Vai trò của hiến pháp đối với mỗi quốc gia: Con người càng ngày càng nhận ra vai trò quan trọng của hiến pháp. Không chỉ đơn thuần là văn bản quy định hình thức cơ cấu quyền lực của một nhà nước, còn góp phần đánh giá bước phát triển của mỗi quốc gia, khẳng định tính chính đáng của nhà nước. Xác lập thể chế chính trị, tổ chức bộ máy nhà nước dân chủ; ghi nhận và bảo đảm các quyền con người, quyền cơ bản của công dân; định hướng các chính sách cơ bản của quốc gia đó.

Ở mỗi quốc gia hiến pháp là cơ sở pháp lý để xây dựng hệ thống pháp luật vì HP là luật của luật, là nguồn của tất cả các ngành luật.  Hiến pháp là cơ sở pháp lý của hệ thống chính trị, Đôi khi còn là cơ sở pháp lí để cải cách chính trị. Với tư cách là đạo luật tối cao của mỗi quốc gia, hiến pháp trước hết phải có chức năng là phải khẳng định quyền lực nhà nước vô biên của lực lượng giành được chính quyền nhưng đồng thời hiến pháp cũng là khuôn mẫu giới hạn quyền lực của nhà nước để tránh sự lạm dụng quyền lực.

Hiến pháp là một bản khế ước xã hội đề cao sự thỏa hiệp,  góp phần nền tảng tạo lập một thể chế chính trị dân chủ và một Nhà nước minh bạch, quản lí xã hội hiệu quả, bảo vệ tốt các quyền lợi của người dân. Từ đó, tạo cơ sở phát triển bền vững cho một quốc gia. Hiến pháp quy định cơ cấu tổ chức Nhà nước nói chung và bộ máy nhà nước nói riêng, xác định thẩm quyền của các cơ quan nhà nước trung ương và nguyên tắc hoạt động cơ bản của chúng, xác định mối quan hệ giữa Nnhà nước vs các tổ chức chính trị, tổ chức xã hội vs nhân dân, quy định về kinh tế, xã hội… Hiến pháp còn đóng vai trò trong việc giáo dục công dân, nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật, và tôn trọng các quy tắc chung của xã hội, pháp luật. được coi là khuôn mẫu để xây dựng nhà nước pháp quyền.

 

5. Phân biệt hiến pháp thành văn và hiến pháp bất thành văn.

Căn cứ vào mặt hình thức, Hiến pháp được chia thành 2 loại là Hiến pháp thành văn và Hiến pháp bất thành văn.

Hiến pháp thành văn tức là các quy định của Hiến pháp được viết thành một văn bản nhất định, và được Nhà nước tuyên bố hoặc ghi nhận là đạo luật cơ bản của Nhà nước. Chính việc thừa nhận những đạo luật quy định về cơ cấu tổ chức nhà nước là đạo luật cơ bản của quốc gia, thì những đạo luật ấy gọi là Hiến pháp. Hiến pháp có hiệu lực pháp lý tối cao được thông qua và sửa đổi theo một trình tự đặc biệt. Hiện nay, trên thế giới, Hiến pháp thành văn có khoảng 130 bản. Việc quy định thành văn cũng có ý nghĩa là việc công khai tuyên bố quyền lực Nhà nước thuộc về tay nhân dân.

Hiến pháp bất thành văn là tổng thể các văn bản quy phạm pháp luật, các quy phạm pháp luật được hình thành theo tập tục truyền thống, các án lệ của Toà án tối cao liên quan đến việc tổ chức quyền lực nhà nước, nhưng không được nhà nước công bố hoặc ghi nhận là đạo luật cơ bản của nhà nước. Hiện nay chỉ có 3 nước trên thế giới có Hiến pháp không thành văn là Anh, New Zealand và Isarael. Ở các quốc gia này không có sự phân biệt giữa đạo luật cơ bản và đạo luật thường nhằm mục đích đề cao quyền lực của Nghị viện. Nghị viện có thể làm tất cả mọi việc mà không ai, không một thế lực nào có thể ngăn cản.

 

6. Phân biệt hiến pháp cổ điển và hiến pháp hiện đại.

- Tiêu chí phân loại: dựa theo tính chất nội dung của các quy định chứa đựng trong hiến pháp.

- Điểm khác nhau:

+ Hiến pháp cổ điển là Hiến pháp được ban hành từ cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX và những Hiến pháp tuy mới được ban hành gần đây song theo trường phái cổ điển. Trong những điều kiện lúc bấy giờ, các Hiến pháp nói chung là ngắn gọn, có nội dung chủ yếu là các quy định về phân chia quyền lực ít các quy định về quyền tự do. Một số Hiến pháp cổ để vẫn tiếp tục tồn tại phải bổ sung, chỉnh lý cho phù hợp với tình hình hiện tại.

Ví dụ: Hiến pháp Mỹ là Hiến pháp đặc trưng cho Hiến pháp cổ điển, chỉ có 7 điều, tập trung vào việc quy định trình tự thành lập và thẩm quyền của cáccơ quan nhà nước ở trung ương như Quốc hội Tổng thống và Toà án tối cao, mối quan hệ giữa liên bang và các tiểu bang, trình tự sửa đổi Hiến pháp nhưng Hiến pháp Mỹ không hề có điều nào nói về các đảng phái chính trị , mặc dù các đảng phái chính trị chiếm một vị trí vô cùng quan trọng trong đời sống chính trị của Mỹ. Ngoài ra Hiến pháp của Vương quốc Na uy năm 1814, Vương quốc Bỉ 1831, Liên bang Thuỵ sĩ 1874… cũng là những Hiến pháp cổ điển. Riêng có một số Hiến pháp như Hiến pháp Áo năm 1920, Ailen 1937, Thuỵ Điển năm 1932… tuy được ban hành gần đây nhưng nội dung không có gì tiến bộ (hiện đại) hơn những Hiến pháp cổ điển được thông qua trước đó hàng trăm năm.

+ Hiến pháp hiện đại những Hiến pháp phần lớn được ban hành từ sau chiến tranh thế giới thứ hai với nội dung điều chỉnh được mở rộng. Trước cuộc đấu tranh đòi quyền dân chủ của các tầng lớp nhân dân lao động và cùng với sự ảnh hưởng của các xã hội chủ nghĩa mà các Hiến pháp đó ngoài những quy định cổ điển như trước đây về tổ chức bộ máy nhà nước còn chứa đựng nhiều điều khoản có nội dung dân chủ, quy định thêm các quyền tự do của công dân như bầu cử quyền có việc làm, quyền bình đẳng  nam nữ, quyền tham gia quản lý nhà nước…

Trên đây là tư vấn của chúng tôi.  Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!