1. Bảo vệ các quyền dân sự thông qua các cơ quan có thẩm quyền là gì ?

Bảo vệ quyền dân sự thông qua cơ quan có thẩm quyền là một trong các phương thức bảo vệ quyền dân sự được Bộ luật dân sự ghi nhận tại Điều 14, theo đó, Tòa án, cơ quan có thẩm quyền khác có trách nhiệm tôn trọng, bảo vệ quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân.

Trường hợp quyền dân sự bị xâm phạm hoặc có tranh chấp thì việc bảo vệ quyền được thực hiện theo pháp luật tố tụng tại Tòa án hoặc trọng tài.

Việc bảo vệ quyền dân sự theo thủ tục hành chính được thực hiện trong trường hợp luật quy định. Quyết định giải quyết vụ việc theo thủ tục hành chính có thể được xem xét lại tại Tòa án.

Điều 1. Bảo vệ quyền dân sự thông qua cơ quan có thẩm quyền

1. Tòa án, cơ quan có thẩm quyền khác có trách nhiệm tôn trọng, bảo vệ quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân.

Trường hợp quyền dân sự bị xâm phạm hoặc có tranh chấp thì việc bảo vệ quyền được thực hiện theo pháp luật tố tụng tại Tòa án hoặc trọng tài.

Việc bảo vệ quyền dân sự theo thủ tục hành chính được thực hiện trong trường hợp luật quy định. Quyết định giải quyết vụ việc theo thủ tục hành chính có thể được xem xét lại tại Tòa án.

2. Tòa án không được từ chối giải quyết vụ, việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng; trong trường hợp này, quy định tại Điều 5 và Điều 6 của Bộ luật này được áp dụng.

2. Tòa án, cơ quan có thẩm quyền khác có trách nhiệm tôn trọng, bảo vệ quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân.

Khi quyền dân sự của một chủ thể bị xâm phạm hoặc có tranh chấp, thì chủ thể có quyền dân sự bị xâm phạm có thể sử dụng các biện pháp để bảo vệ theo quy định của pháp luật dân sự như: tự bảo vệ, ngăn cản, truy tìm, đòi lại tài sản, thực hiện các biện pháp tác động… hoặc yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc trọng tài bảo vệ. Việc bảo vệ quyền dân sự được thực hiện theo quy định của pháp luật tố tụng tại Điều 4 Điều 186 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Đây còn được gọi là quyền khởi kiện.

Việc bảo vệ quyền dân sự theo thủ tục hành chính được thực hiện trong trường hợp luật quy định. Quyết định giải quyết vụ việc theo thủ tục hành chính có thể được xem xét lại tại Tòa án.

Người có quyền dân sự có thể yêu cầu người có nghĩa vụ phải thực hiện hoặc không được thực hiện những hành vi nhất định để đáp ứng yêu cầu của mình, nhưng người có nghĩa vụ có thể thực hiện hoặc không tùy thuộc vào khả năng thực tế và thiện chí của họ.

Rõ ràng, quyền yêu cầu của chủ thể có quyền còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố của người có nghĩa vụ như hoàn cảnh khách quan, ý chí chủ quan của người đó. Khi người có nghĩa vụ không thực hiện những hành vi đáp ứng quyền lợi cho người có quyền thì người có quyền có thể yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc họ phải thực hiện nghĩa vụ.

Cá nhân, tổ chức trong trường hợp phát sinh tranh chấp, bị xâm phạm quyền dân sự bởi chủ thể khác, có thể dùng hai phương thức bảo vệ sau: tự mình bảo vệ hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền bảo vệ (Điều 16 Dự thảo lần 4). Trong trường hợp yêu cầu cơ quan có thẩm quyền bảo vệ thì được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 19 Dự thảo lần 4, như sau:

“1. Tòa án, cơ quan có thẩm quyền khác có trách nhiệm bảo vệ quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân.

Trường hợp quyền dân sự bị vi phạm hoặc có tranh chấp thì việc bảo vệ quyền được thực hiện theo pháp luật tố tụng tại Tòa án hoặc trọng tài.

Việc bảo vệ quyền dân sự theo thủ tục hành chính được thực hiện trong những trường hợp luật định. Quyết định giải quyết vụ việc theo thủ tục hành chính có thể được xem xét lại tại Tòa án”.

Các cơ quan có thẩm quyền bao gồm: tòa án, trọng tài và cơ quan hành chính. Cũng theo quy định này, quyết định giải quyết vụ việc theo thủ tục hành chính có thể được xem xét lại tại tòa án. Như vậy, tòa án sẽ là cơ quan có thẩm quyền chung quyết định trong việc bảo vệ quyền dân sự của cá nhân, tổ chức. Xét về các chủ thể gây tranh chấp, vi phạm các quyền dân sự có thể là cá nhân, tổ chức và cơ quan hành chính. Các tranh chấp, vi phạm nếu đến từ cơ quan hành chính sẽ tạo ra hai nghi vấn sau: (1) Là các tranh chấp, vi phạm mà có một bên chủ thể chính là người có trách nhiệm bảo vệ quyền dân sự. Vậy giới hạn của nó, để không trở thành sự hạn chế quyền trong hoạt động bảo vệ quyền dân sự của cá nhân, tổ chức. (2) Các vi phạm của cơ quan hành chính thông qua các quyết định hành chính, hành vi hành chính sẽ trở thành đối tượng của luật tố tụng hành chính.

Hoạt động của tòa án ở Việt Nam xét từ góc độ thẩm quyền trong bảo vệ quyền dân sự, gồm: (1) Xét xử các tranh chấp, vi phạm quyền dân sự của các cá nhân, tổ chức (khoản 1 Điều 19 và Điều 20 Dự thảo lần 4); (2) Phát hiện và kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền thay đổi các quyết định, hành vi công vụ nhằm bảo vệ quyền lợi của cá nhân, tổ chức và bảo vệ nền pháp lý (khoản 7 Điều 2 Luật Tổ chức tòa án nhân dân năm 2014).

 

3. Tòa án không được từ chối giải quyết vụ, việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng.

Đây là nội dung hoàn toàn mới chưa được quy định trong các bộ luật năm 1995, năm 2005, lần đầu được quy định trong BLDS năm 2015. Để bảo vệ quyền tuyệt đối của chủ thể trong quan hệ dân sự khi bị xâm phạm cũng như do sự đa dạng, phong phú và tính phức tạp của các quan hệ dân sự trong đời sống xã hội mà các nhà làm luật chưa thể dự liệu ngay được.

Với quy định Tòa án không được từ chối giải quyết vụ, việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng sẽ tạo thuận lợi cho các chủ thể trong quan hệ dân sự khi bị xâm phạm luôn được pháp luật dân sự tôn trọng, bảo vệ.

Khi quyền dân sự của một chủ thể bị xâm phạm và chủ thể có quyền dân sự bị xâm phạm có yêu cầu, thì Tòa án không được từ chối giải quyết vụ, việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng… Đây có thể xem là quy định có tính chất truyền thống trong BLDS nhiều nước trên thế giới.

Trước đây, kế thừa Bộ Dân luật Pháp năm 1804, quy định này cũng đã được ghi nhận tại Bộ Dân luật Bắc Kỳ năm 1931, Bộ Hoàng Việt Trung Kỳ Hộ luật năm 1936 và sau này là Bộ Dân luật của Việt Nam cộng hòa năm 1972.

Điều thứ 5, Bộ Hoàng Việt Trung Kỳ Hộ luật năm 1936 đã quy định: “Phàm quan Thẩm phán nào viện lẽ rằng luật không định, luật không rõ hay là luật không đủ mà thoái thác không xử một việc gì thì có thể bị truy cứu và nghị xử về tội bất khẳng thụ lý như Điều 188 luật hình đã định”. 

Ghi nhận một quy định có tính chất truyền thống của pháp luật dân sự, nhưng khoản 2 Điều 14 mới chỉ ra việc phải áp dụng tập quán, áp dụng tương tự pháp luật để lấp “khoảng trống” của pháp luật, mà chưa có chế tài cụ thể khi Tòa án “từ chối giải quyết vụ, việc dân sự”.

4. Huỷ quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền.

4.1 Khái niệm

Hủy quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền là quyền của Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác khi giải quyết yêu cầu bảo vệ quyền dân sự cho cá nhân, pháp nhân được quy định tại Điều 15 của Bộ luật dân sự 2015.

Khi giải quyết yêu cầu bảo vệ quyền dân sự, Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác có quyền hủy quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền.

Trường hợp quyết định cá biệt bị hủy thì quyền dân sự bị xâm phạm được khôi phục và có thể được bảo vệ bằng các phương thức quy định tại Điều 11 của Bộ luật này.

 

4.2. Huỷ quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền.

Khi giải quyết yêu cầu bảo vệ quyền dân sự, Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác có quyền hủy quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền.

Trong thực tế áp dụng pháp luật, có những trường hợp vì những lý do khách quan, chủ quan khác nhau khi xem xét, giải quyết một quan hệ dân sự cụ thể đã có những sai lầm trong các quyết định cá biệt của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền.

Quyết định cá biệt chưa phù hợp với thực tế nên đã gây ra thiệt hại hoặc có thể sẽ gây ra thiệt hại cho một chủ thể có thể bị xem là trái pháp luật. Có thực trạng này là do nhận thức và áp dụng pháp luật thiếu thống nhất của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền.

Để bảo đảm sự công bằng và để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong quan hệ dân sự Điều 15 BLDS năm 2015 cho phép: Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác có quyền hủy quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền.

Việc hủy quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền đã được quy định cụ thể tại khoản 6 Điều 11 BLDS năm 2015. Vì vậy, có thể xem Điều 15 BLDS năm 2015 là việc cụ thể hơn phương thức bảo vệ quyền dân sự.

Một trong những phương thức bảo vệ quyền dân sự là pháp luật cho phép chủ thể khi bị thiệt hại hoặc có thể sẽ bị thiệt hại do những quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền thì có quyền khởi kiện, khiếu nại.

Hủy quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền là một trong những phương thức bảo vệ quyền dân sự có ý nghĩa quan trọng khi chủ thể bị thiệt hại hoặc có thể sẽ bị thiệt hại khi khiếu nại, khiếu kiện yêu cầu giải quyết.

Hậu quả pháp lý khi hủy quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền là các quyết định cá biệt đó không còn giá trị áp dụng. Điều 15 BLDS năm 2015 đã quy định: “Trường hợp quyết định cá biệt bị hủy thì quyền dân sự bị xâm phạm được khôi phục và có thể được bảo vệ bằng các phương thức quy định tại Điều 11 của Bộ luật này”.........