1. Quy định pháp luật về quyền lợi được trả lương của người lao động
Quyền và nghĩa vụ của người lao động:
Người lao động có quyền tự do lựa chọn việc làm, nơi làm việc, nghề nghiệp, học nghề, và nâng cao trình độ nghề nghiệp. Họ không được phân biệt đối xử, bị cưỡng bức lao động, hay quấy rối tình dục tại nơi làm việc.
Người lao động có quyền hưởng lương phù hợp với trình độ và kỹ năng nghề, dựa trên thỏa thuận với người sử dụng lao động. Họ cũng được bảo hộ lao động và làm việc trong điều kiện bảo đảm về an toàn và vệ sinh lao động. Ngoài ra, họ được nghỉ theo chế độ, nghỉ hằng năm có hưởng lương và phúc lợi tập thể.
Người lao động có quyền thành lập, gia nhập và hoạt động trong tổ chức đại diện người lao động, tổ chức nghề nghiệp và các tổ chức khác theo quy định của pháp luật. Họ có quyền yêu cầu và tham gia đối thoại, thương lượng tập thể với người sử dụng lao động, và được tham vấn tại nơi làm việc để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của mình. Họ cũng có thể tham gia quản lý theo nội quy của người sử dụng lao động.
Người lao động có quyền từ chối làm việc nếu có nguy cơ rõ ràng đe dọa trực tiếp đến tính mạng và sức khỏe trong quá trình thực hiện công việc.
Họ có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.
Họ cũng có quyền đình công và được thực hiện theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, người lao động còn có các quyền khác theo quy định của pháp luật.
Trả lương:
Người sử dụng lao động trả lương cho người lao động dựa trên tiền lương đã thỏa thuận, năng suất lao động và chất lượng thực hiện công việc.
Tiền lương được ghi trong hợp đồng lao động và được trả bằng tiền Đồng Việt Nam. Trong trường hợp người lao động là người nước ngoài tại Việt Nam, tiền lương có thể được trả bằng ngoại tệ.
Mỗi lần trả lương, người sử dụng lao động phải thông báo bảng kê trả lương cho người lao động, trong đó ghi rõ tiền lương, tiền lương làm thêm giờ, tiền lương làm việc vào ban đêm, và các khoản khấu trừ (nếu có).
Tổng quan, người lao động có quyền và nghĩa vụ được quy định bởi pháp luật. Họ có quyền lựa chọn việc làm, hưởng lương phù hợp, và tham gia tổ chức đại diện người lao động. Tiền lương phải đảm bảo bình đẳng và không phân biệt giới tính. Người sử dụng lao động trả lương căn cứ vào tiền lương đã thỏa thuận và chất lượng công việc.
2. Bản chất về tiền lương của người lao động
Yếu tố lao động và sức lao động:
Lao động được coi là yếu tố quyết định trong quá trình sản xuất kinh doanh. Điều này có nghĩa là lao động là nguồn tạo ra giá trị riêng biệt trong sản phẩm hoặc dịch vụ.
Sức lao động, hoặc người lao động, không thể trực tiếp được mua bán. Thay vào đó, sức lao động trở thành một loại hàng hoá được định giá bằng giá trị lao động kết tinh trong sản phẩm cuối cùng.
Người lao động bán sức lao động và nhận được tiền lương là đại diện cho giá trị của sức lao động mà họ đã cung cấp.
Bản chất của tiền lương:
Tiền lương là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động. Nó là một loại giá trị hàng hoá sức lao động được hình thành thông qua sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động.
Tiền lương cũng chịu sự ảnh hưởng của các quy luật kinh tế, bao gồm quy luật cung cầu.
Tiền lương và nguồn sống của người lao động:
Tiền lương mà người lao động nhận được phải đảm bảo là nguồn thu nhập và nguồn sống của họ và gia đình. Nó giúp họ hòa nhập với xã hội và duy trì cuộc sống hàng ngày.
Giá trị tiền lương và tiền công của người lao động trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh được quyết định bởi thị trường.
Nguồn tiền lương và thu nhập của người lao động phụ thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh.
Tầm quan trọng của sức lao động và bù đắp công việc:
Sức lao động được coi là yếu tố quyết định trong quá trình sản xuất, vì vậy nó cần được bù đắp sau khi đã hao phí.
Tiền lương là phạm trù phân phối và thể hiện quá trình phân phối thu nhập dựa trên hiệu quả lao động và hao phí.
Tiền lương đòi hỏi phải có giá trị tương đương với giá trị của các hàng hoá tiêu dùng và sinh hoạt khác.
Tổng quan, phân tích trên nhấn mạnh vai trò quan trọng của yếu tố lao động và sức lao động trong quá trình sản xuất kinh doanh. Tiền lương được xem như một phạm trù phân phối và thể hiện sự cân bằng giữa giá trị của sức lao động và giá trị của các hàng hoá tiêu dùng và sinh hoạt.
3. Cách bảo vệ quyền lợi người lao động khi không được trả lương?
Trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động cá nhân thông qua hòa giải viên lao động và Hội đồng trọng tài lao động, tuân thủ các bước và thời hạn quy định là rất quan trọng để đảm bảo sự công bằng và hiệu quả trong quá trình giải quyết tranh chấp. Dưới đây là phân tích chi tiết về quy trình này:
Hòa giải viên lao động:
Đây là bước đầu tiên và thường là bước bắt buộc trong việc giải quyết tranh chấp lao động cá nhân. Người lao động phải đăng ký yêu cầu giải quyết tranh chấp tại cơ quan quản lý lao động địa phương, sau đó hòa giải viên lao động sẽ triệu tập các bên tranh chấp để tổ chức phiên họp hòa giải.
Tại phiên họp hòa giải, các bên tranh chấp tham gia thương lượng và đưa ra các lập luận, chứng cứ để giải quyết tranh chấp. Nếu các bên tranh chấp đạt được thỏa thuận, hòa giải viên lao động lập biên bản hòa giải thành ghi rõ các thỏa thuận và cam kết của các bên. Nếu không đạt được thỏa thuận, hòa giải viên lao động đưa ra phương án hòa giải để các bên xem xét.
Hội đồng trọng tài lao động:
Nếu không đạt được thỏa thuận thông qua hòa giải viên lao động, người lao động có quyền yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên, đây là bước không bắt buộc và phụ thuộc vào sự đồng thuận của các bên tranh chấp.
Ban trọng tài lao động sẽ được thành lập trong vòng 7 ngày làm việc kể từ khi nhận được yêu cầu giải quyết tranh chấp. Ban trọng tài lao động sẽ đưa ra quyết định về việc giải quyết tranh chấp trong vòng 30 ngày và gửi cho các bên tranh chấp.
Nếu Ban trọng tài lao động không được thành lập hoặc không ra quyết định trong thời hạn quy định, các bên tranh chấp có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp.
Qua việc tuân thủ các bước và thời hạn quy định trong quy trình giải quyết tranh chấp lao động cá nhân, đảm bảo sự công bằng và hiệu quả trong quá trình giải quyết tranh chấp. Các bên tranh chấp có cơ hội thương lượng, đưa ra lập luận và chứng cứ để đạt được thỏa thuận hoặc nhận quyết định từ Ban trọng tài lao động
Thủ tục hòa giải tranh chấp lao động cá nhân của hòa giải viên lao động:
Trước khi yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động hoặc Tòa án giải quyết, người lao động phải đăng ký yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại cơ quan quản lý lao động địa phương nơi người lao động làm việc.
Trong vòng 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu, hòa giải viên lao động phải triệu tập các bên tranh chấp để tổ chức phiên họp hòa giải.
Tại phiên họp hòa giải, các bên tranh chấp tham gia thương lượng và đưa ra các lập luận, chứng cứ để giải quyết tranh chấp. Các bên có thể ủy quyền cho người khác tham gia phiên họp hòa giải.
Nếu các bên tranh chấp thỏa thuận được, hòa giải viên lao động lập biên bản hòa giải thành, ghi rõ các thỏa thuận và cam kết của các bên. Biên bản này có chữ ký của các bên tranh chấp và hòa giải viên lao động.
Trong trường hợp không đạt được thỏa thuận, hòa giải viên lao động đưa ra phương án hòa giải để các bên xem xét. Nếu các bên đồng ý với phương án hòa giải, hòa giải viên lập biên bản hòa giải thành, cũng có chữ ký của các bên tranh chấp và hòa giải viên lao động.
Trường hợp phương án hòa giải không được chấp nhận hoặc một bên tranh chấp không tham gia đầy đủ và không có lý do chính đáng, hòa giải viên lao động lập biên bản hòa giải không thành. Biên bản này chỉ có chữ ký của bên tranh chấp có mặt và hòa giải viên lao động.
Bản sao biên bản hòa giải thành hoặc không thành phải được gửi cho các bên tranh chấp trong thời hạn 1 ngày làm việc kể từ ngày lập biên bản.
Giải quyết tranh chấp lao động cá nhân của Hội đồng trọng tài lao động:
Trên cơ sở đồng thuận, người lao động có quyền yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động giải quyết tranh chấp lao động cá nhân.
Trong vòng 7 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu, Ban trọng tài lao động phải được thành lập để giải quyết tranh chấp.
Trong vòng 30 ngày kể từ ngày Ban trọng tài lao động được thành lập, Ban trọng tài lao động phải đưa ra quyết định về việc giải quyết tranh chấp và gửi cho các bên tranh chấp.
Nếu Ban trọng tài lao động không được thành lập hoặc không ra quyết định trong thời hạn quy định, các bên tranh chấp có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp.
Trong trường hợp một trong các bên không tuân thủ quyết định giải quyết tranh chấp của Ban trọng tài lao động, các bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tóm lại, quy trình giải quyết tranh chấp lao động cá nhân thông qua hòa giải viên lao động và Hội đồng trọng tài lao động đòi hỏi tuân thủ các bước và thời hạn quy định để đảm bảo sự công bằng và hiệu quả trong giải quyết tranh chấp.
Xem thêm>>> Điểm mới về bảng lương cơ sở năm 2023
Vui lòng liên hệ Hotline 1900.6162. Hoặc quý khách hàng gửi yêu cầu qua email: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ và giải đáp thắc mắc nhanh chóng.
Luật Minh Khuê luôn sẵn sàng hỗ trợ quý khách.
Xin trân trọng !