1. Quy định chung về chế độ lương hưu đối với sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam

Chế độ lương hưu đối với sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam được thực hiện theo nguyên tắc kết hợp giữa chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc và chính sách ưu đãi đặc thù dành cho lực lượng vũ trang. Hệ thống quy định hiện hành được xây dựng trên cơ sở Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung năm 2024, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024, Nghị định số 157/2025/NĐ-CP và Thông tư số 90/2025/TT-BQP của Bộ Quốc phòng.

Theo quy định mới, hạn tuổi phục vụ tại ngũ cao nhất của sĩ quan cấp bậc Đại tá được nâng lên 58 tuổi đối với cả nam và nữ. Việc điều chỉnh này không chỉ phù hợp với yêu cầu xây dựng quân đội trong giai đoạn mới mà còn tạo điều kiện để sĩ quan kéo dài thời gian công tác, tăng số năm đóng bảo hiểm xã hội và có cơ hội đạt tỷ lệ hưởng lương hưu tối đa theo quy định.

Điều kiện hưởng lương hưu hằng tháng của sĩ quan quân đội được xác định theo từng trường hợp cụ thể. Người nghỉ hưu có thể được hưởng chế độ nếu đã đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 15 năm trở lên và đáp ứng độ tuổi nghỉ hưu theo quy định của pháp luật. Riêng đối với sĩ quan hết hạn tuổi phục vụ tại ngũ theo Luật Sĩ quan, nếu đã có từ đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội thì được nghỉ hưu và hưởng lương hưu hằng tháng mà không bị giảm tỷ lệ do nghỉ trước tuổi.

Ngoài ra, sĩ quan có từ đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội và bị suy giảm khả năng lao động theo kết luận của Hội đồng Giám định y khoa có thẩm quyền cũng có thể được giải quyết nghỉ hưu trước tuổi theo chế độ bảo hiểm xã hội.

Nguồn kinh phí chi trả lương hưu của sĩ quan quân đội được bảo đảm từ Quỹ bảo hiểm xã hội kết hợp với ngân sách nhà nước. Trong đó, ngân sách nhà nước tiếp tục bảo đảm các khoản hỗ trợ mang tính đặc thù của lực lượng vũ trang như chênh lệch do phụ cấp thâm niên, các khoản trợ cấp bổ sung và chính sách ưu đãi riêng đối với quân nhân nghỉ hưu.

Nhìn chung, chế độ hưu trí của sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam vừa tuân thủ nguyên tắc đóng - hưởng của bảo hiểm xã hội, vừa bảo đảm sự ghi nhận đối với quá trình cống hiến lâu dài trong môi trường quân sự có tính chất đặc biệt.

 

2. Cách tính lương hưu cho Đại tá quân đội về hưu theo pháp luật hiện hành

Mức lương hưu của Đại tá quân đội được xác định theo công thức chung của Luật Bảo hiểm xã hội:

Lương hưu hằng tháng = Tỷ lệ hưởng lương hưu × Mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội.

Để tính đúng mức lương hưu của sĩ quan cấp bậc Đại tá, cần xác định đầy đủ hai yếu tố là tỷ lệ hưởng lương hưu và mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội.

Tỷ lệ hưởng lương hưu được xác định theo thời gian tham gia bảo hiểm xã hội và giới tính của người nghỉ hưu.

Đối với sĩ quan nam:

  • Đóng đủ 20 năm bảo hiểm xã hội được hưởng 45%.
  • Sau năm thứ 20, mỗi năm đóng thêm được cộng 2%.
  • Đạt mức tối đa 75% khi có đủ 35 năm đóng bảo hiểm xã hội.
  • Trường hợp có từ đủ 15 năm đến dưới 20 năm đóng bảo hiểm xã hội thì được hưởng 40% cho 15 năm đầu, sau đó mỗi năm cộng thêm 1%.

Đối với sĩ quan nữ:

  • Đóng đủ 15 năm bảo hiểm xã hội được hưởng 45%.
  • Mỗi năm đóng thêm được cộng 2%.
  • Đạt mức tối đa 75% khi có đủ 30 năm đóng bảo hiểm xã hội.

Đối với sĩ quan có từ đủ 10 năm trực tiếp làm nghề, công việc đặc biệt đặc thù theo danh mục của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, pháp luật còn quy định cách tính ưu tiên nếu tỷ lệ hưởng chưa đạt mức tối đa 75%. Đây là cơ chế riêng nhằm bảo đảm quyền lợi cho những quân nhân làm việc trong môi trường đặc biệt khó khăn, nguy hiểm.

Yếu tố thứ hai quyết định mức lương hưu là mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội.

Đối với sĩ quan quân đội, tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội bao gồm:

  • Lương cấp bậc quân hàm.
  • Phụ cấp chức vụ lãnh đạo (nếu có).
  • Phụ cấp thâm niên nghề.
  • Phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có).

Theo quy định hiện hành, hệ số lương của Đại tá là 8,00; nâng lương lần 1 là 8,40 và nâng lương lần 2 là 8,60 theo Nghị định số 204/2004/NĐ-CP.

Phụ cấp thâm niên nghề được tính từ năm công tác thứ 5 với mức 5% tiền lương hiện hưởng cùng các khoản phụ cấp liên quan. Từ năm thứ 6 trở đi, mỗi năm công tác được cộng thêm 1%, vì vậy nhiều sĩ quan Đại tá khi nghỉ hưu có mức phụ cấp thâm niên đạt khoảng 30% đến 35%.

Bên cạnh đó, nếu Đại tá giữ chức vụ lãnh đạo như Trung đoàn trưởng, Sư đoàn trưởng hoặc các chức vụ tương đương thì phụ cấp chức vụ cũng được tính vào tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội và ảnh hưởng trực tiếp đến mức lương hưu sau này.

Một điểm cần lưu ý là thời gian dùng để tính mức bình quân tiền lương đóng bảo hiểm xã hội không giống nhau đối với mọi trường hợp mà phụ thuộc vào thời điểm bắt đầu tham gia bảo hiểm xã hội.

  • Tham gia trước ngày 01/01/1995: tính bình quân của 60 tháng cuối.
  • Từ ngày 01/01/1995 đến hết ngày 31/12/2000: tính bình quân của 72 tháng cuối.
  • Từ ngày 01/01/2001 đến hết ngày 31/12/2006: tính bình quân của 96 tháng cuối.
  • Từ ngày 01/01/2007 đến hết ngày 31/12/2015: tính bình quân của 120 tháng cuối.
  • Từ ngày 01/01/2016 đến hết ngày 31/12/2019: tính bình quân của 180 tháng cuối.
  • Từ ngày 01/01/2020 đến hết ngày 31/12/2024: tính bình quân của 240 tháng cuối.
  • Tham gia từ ngày 01/01/2025 trở đi: tính bình quân trên toàn bộ thời gian đóng bảo hiểm xã hội.

Đối với sĩ quan thuộc diện hưởng lương theo chế độ do Nhà nước quy định và đã tham gia bảo hiểm xã hội trước ngày 01/01/2016, tiền lương đã đóng bảo hiểm xã hội còn được điều chỉnh theo mức lương cơ sở tại thời điểm nghỉ hưu. Quy định này góp phần bảo đảm giá trị thực tế của tiền lương hưu, hạn chế ảnh hưởng của biến động kinh tế và sự thay đổi của chính sách tiền lương qua từng thời kỳ.

 

3. Mức lương đại tá quân đội về hưu là bao nhiêu tiền một tháng?

Không có một mức lương hưu cố định áp dụng cho tất cả sĩ quan cấp bậc Đại tá. Số tiền thực tế mỗi người được hưởng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như hệ số lương tại thời điểm nghỉ hưu, số năm đóng bảo hiểm xã hội, phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên nghề, phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có) và tỷ lệ hưởng lương hưu theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội.

Theo quy định áp dụng từ ngày 01/7/2026 tại Nghị định số 161/2026/NĐ-CP và hướng dẫn của Bộ Quốc phòng, mức lương cơ sở được điều chỉnh lên 2.530.000 đồng/tháng. Trên cơ sở đó, tiền lương theo cấp bậc quân hàm của Đại tá được xác định như sau:

Trường hợp Hệ số lương Lương cấp bậc quân hàm
Đại tá 8,00 20.240.000 đồng/tháng
Đại tá nâng lương lần 1 8,40 21.252.000 đồng/tháng
Đại tá nâng lương lần 2 8,60 21.758.000 đồng/tháng

Khi nghỉ hưu, ngoài tiền lương cấp bậc quân hàm, sĩ quan còn được tính thêm phụ cấp thâm niên nghề và phụ cấp chức vụ lãnh đạo (nếu có) để xác định tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội.

Trong thực tế, phần lớn sĩ quan Đại tá có thời gian phục vụ khoảng 35 năm sẽ có phụ cấp thâm niên nghề từ khoảng 30% đến 35%. Nếu đủ điều kiện hưởng tỷ lệ lương hưu tối đa 75%, mức lương hưu hằng tháng có thể được xác định theo các kịch bản phổ biến sau:

Kịch bản Tổng tiền lương làm căn cứ đóng BHXH Lương hưu ước tính (75%)
Đại tá, không giữ chức vụ lãnh đạo 27.324.000 đồng 20.493.000 đồng/tháng
Đại tá giữ chức vụ Trung đoàn trưởng 29.714.850 đồng 22.286.138 đồng/tháng
Đại tá nâng lương lần 1 28.690.200 đồng 21.517.650 đồng/tháng
Đại tá nâng lương lần 1, giữ chức vụ Sư đoàn trưởng 31.764.150 đồng 23.823.113 đồng/tháng
Đại tá nâng lương lần 2 29.373.300 đồng 22.029.975 đồng/tháng

Qua các số liệu trên có thể thấy, trong điều kiện thông thường sau ngày 01/7/2026, mức lương hưu của một sĩ quan Đại tá đủ điều kiện hưởng tỷ lệ tối đa thường dao động từ khoảng 20,4 triệu đồng đến trên 23,8 triệu đồng mỗi tháng.

Đối với những Đại tá đã nghỉ hưu trước ngày 01/7/2026, mức lương hưu đang hưởng tiếp tục được điều chỉnh tăng theo chính sách của Nhà nước. Theo Nghị định số 162/2026/NĐ-CP, lương hưu của nhóm đối tượng này được tăng thêm 8% trên mức hưởng của tháng 6/2026 nhằm bảo đảm thu nhập phù hợp với sự điều chỉnh tiền lương cơ sở và biến động của chỉ số giá tiêu dùng.

 

4. Giải đáp các thắc mắc thường gặp về chế độ lương hưu của Đại tá quân đội

Trợ cấp một lần đối với thời gian đóng bảo hiểm xã hội vượt mức hưởng 75% được tính như thế nào?

Theo Điều 68 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024, sĩ quan có thời gian đóng bảo hiểm xã hội vượt số năm cần thiết để hưởng tỷ lệ lương hưu tối đa vẫn được nhận thêm trợ cấp một lần.

Đối với sĩ quan nam, thời gian vượt quá 35 năm đóng bảo hiểm xã hội; đối với sĩ quan nữ, thời gian vượt quá 30 năm sẽ được tính hưởng trợ cấp theo quy định.

Nếu nghỉ hưu ngay khi đủ tuổi, mỗi năm đóng vượt được hưởng trợ cấp bằng 0,5 lần mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội.

Nếu đã đủ điều kiện nghỉ hưu nhưng tiếp tục phục vụ và tiếp tục đóng bảo hiểm xã hội, mỗi năm đóng vượt sau thời điểm đủ tuổi nghỉ hưu được hưởng trợ cấp bằng 2 lần mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội.

Đại tá nghỉ hưu có được cấp thẻ bảo hiểm y tế không?

Có. Theo khoản 4 Điều 3 Nghị định số 146/2018/NĐ-CP, sĩ quan quân đội nghỉ hưu được ngân sách nhà nước đóng bảo hiểm y tế và cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí.

Đối tượng này được hưởng mức thanh toán 100% chi phí khám bệnh, chữa bệnh trong phạm vi quyền lợi bảo hiểm y tế theo quy định mà không phải đồng chi trả. Đây là quyền lợi cao hơn so với nhiều nhóm đối tượng nghỉ hưu khác.

Thời gian nghỉ chuẩn bị hưu có được tính đóng bảo hiểm xã hội không?

Có. Theo Thông tư số 56/2025/TT-BQP, thời gian nghỉ chuẩn bị hưu vẫn được tính là thời gian công tác và thời gian đóng bảo hiểm xã hội.

Trong khoảng thời gian này, sĩ quan vẫn được hưởng nguyên lương cấp bậc quân hàm, phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên nghề và các chế độ liên quan. Đơn vị quản lý vẫn tiếp tục đóng bảo hiểm xã hội theo quy định, do đó thời gian nghỉ chuẩn bị hưu được cộng vào thời gian tham gia bảo hiểm xã hội để tính tỷ lệ hưởng lương hưu.

Thời gian nghỉ chuẩn bị hưu được xác định theo số năm công tác:

  • Từ đủ 15 năm đến dưới 20 năm công tác: nghỉ tối đa 6 tháng.
  • Từ đủ 20 năm đến dưới 25 năm công tác: nghỉ tối đa 9 tháng.
  • Từ đủ 25 năm công tác trở lên: nghỉ tối đa 12 tháng.

 

5. Đại tá về hưu có được hưởng lương thiếu tướng không và các trường hợp đặc biệt

Theo nguyên tắc chung của pháp luật về bảo hiểm xã hội, mức lương hưu được xác định căn cứ vào tiền lương tháng đã đóng bảo hiểm xã hội trong thời gian công tác. Vì vậy, sĩ quan nghỉ hưu với cấp bậc quân hàm Đại tá sẽ được tính lương hưu theo hệ số lương của cấp bậc Đại tá và các khoản phụ cấp tương ứng, không được mặc nhiên hưởng lương hưu của cấp Thiếu tướng.

Điều này có nghĩa, việc đã giữ cấp bậc Đại tá đến khi nghỉ hưu không làm phát sinh quyền hưởng lương hưu theo hệ số của cấp tướng nếu trước thời điểm nghỉ hưu chưa được phong hoặc thăng quân hàm Thiếu tướng theo đúng quy định.

Pháp luật hiện hành cũng quy định rõ, cơ chế xét thăng quân hàm hoặc nâng lương trước khi nghỉ hưu không áp dụng đối với việc thăng quân hàm cấp tướng. Do đó, mặc dù Đại tá đã giữ quân hàm đủ thời gian, hoàn thành tốt nhiệm vụ hoặc đủ điều kiện xét nâng lương thì cũng không được tự động thăng lên Thiếu tướng trước khi nghỉ hưu.

Tuy nhiên, vẫn có một số trường hợp đặc biệt mà Đại tá có thể được hưởng mức lương hưu tương đương hoặc gần tương đương với Thiếu tướng.

Trường hợp thứ nhất là Đại tá được Chủ tịch nước quyết định phong hoặc thăng quân hàm Thiếu tướng trước thời điểm nghỉ hưu do lập thành tích đặc biệt xuất sắc trong chiến đấu, công tác hoặc nghiên cứu khoa học quân sự. Khi đó, tiền lương đóng bảo hiểm xã hội được xác định theo hệ số của cấp Thiếu tướng và lương hưu cũng được tính trên cơ sở mức lương mới này.

Trường hợp thứ hai là Đại tá được nâng lương lần 2 theo quy định hiện hành. Khi đó, hệ số lương của Đại tá là 8,60, bằng với hệ số lương của Thiếu tướng. Nếu các điều kiện khác như thời gian đóng bảo hiểm xã hội và tỷ lệ hưởng lương hưu giống nhau thì mức lương hưu của Đại tá nâng lương lần 2 có thể tương đương với mức lương hưu của một Thiếu tướng.

Ngoài tiền lương hưu, một số Đại tá nâng lương lần 2 còn được hưởng nhiều chế độ an sinh tương đương nhóm sĩ quan cấp tướng nghỉ hưu theo quy định của Nghị định số 343/2025/NĐ-CP, bao gồm chế độ an điều dưỡng hằng năm, hỗ trợ chăm sóc sức khỏe, cấp báo Quân đội nhân dân và một số chính sách hỗ trợ khi mắc bệnh hiểm nghèo hoặc khi từ trần.

Trong trường hợp Đại tá nghỉ hưu trước hạn tuổi do sắp xếp tổ chức bộ máy, ngoài lương hưu hằng tháng còn có thể được hưởng nhiều khoản trợ cấp một lần theo quy định của Nghị định số 52/2025/NĐ-CP và Thông tư số 25/2025/TT-BQP. Các khoản trợ cấp này có thể bao gồm trợ cấp theo số năm nghỉ hưu trước tuổi, trợ cấp theo số tháng nghỉ sớm và trợ cấp căn cứ vào tổng thời gian đã tham gia bảo hiểm xã hội. Tùy từng trường hợp cụ thể, tổng giá trị các khoản trợ cấp có thể lên tới hàng trăm triệu đồng, góp phần bảo đảm ổn định đời sống cho sĩ quan sau khi hoàn thành nhiệm vụ trong Quân đội nhân dân Việt Nam.

Bên cạnh đó, quý bạn đọc cũng có thể tham khảo thêm một số nội dung khác về lương hưu như: