1. Bảo vệ trẻ em bị mất môi trường gia đình
Vấn đề này được đề cập trong hai Điều 20, 21 và 25 của CRC. Điều 20 yêu cầu các nhà nước dành sự bảo vệ và trợ giúp đặc biệt cho những trẻ em bị mất môi trường gia đình (tạm thời hay vĩnh viễn) hoặc vẫn còn cha mẹ nhưng cần được tách khỏi gia đình vì lợi ích tốt nhất của các em đó, bằng cách cung cấp cho trẻ sự chăm sóc thay thế. Các hình thức chăm sóc thay thế có thể là gửi nuôi, nhận làm con nuôi (trong hoặc ngoài nước), hình thức Kafala theo luật Hồi giáo hoặc đưa trẻ vào các cơ sở chăm sóc trẻ em (do Nhà nước hay các tổ chức từ thiện điều hành). Điều này cũng quy định, những yếu tố cần xem xét khi cân nhắc để lựa chọn các biện pháp chăm sóc thay thế bao gồm khả năng nuôi dạy trẻ em lâu dài và sự phù hợp về văn hoá như xuất xứ dân tộc, tôn giáo, ngôn ngữ... của trẻ em. Liên quan đến quy định trên, trong Bình luận chung số 7, Ủy ban quyền trẻ em cho rằng, biện pháp chăm sóc thay thế dựa trên cơ sở gia đình (cho làm con nuôi) hoặc có hình thức giống như gia đình (nhận đỡ đầu...) cần được ưu tiên vì cho thấy kết quả tích cực hơn với trẻ em (đoạn 36). Trên thực tế ở các quốc gia, việc đưa trẻ em vào các cơ sở chăm sóc thay thế thường được xem xét như là biện pháp cuối cùng.
2. Biện pháp chăm sóc thay thế phổ biến
Điều 21 đề cập cụ thể biện pháp chăm sóc thay thế phổ biến là cho làm con nuôi. Mục đích của Điều này là nhằm ngăn chặn những hành vi trục lợi, thương mại hoá hoạt động cho nhận con nuôi. Theo Điều này, việc nhận trẻ em làm con nuôi phải được tiến hành theo quy định của pháp luật, và phải quán triệt nguyên tắc nhằm mang lại lợi ích tốt nhất cho trẻ. Xuất phát từ nguyên tắc này, việc nhận trẻ em làm con nuôi chỉ được tiến hành với sự cho phép của những cơ quan có thẩm quyền sau khi đã hoàn tất các thủ tục và dựa trên các thông tin thích hợp, đáng tin cậy về hoàn cảnh của bản thân, cha, mẹ, họ hàng, người giám hộ hợp pháp của đứa trẻ, cũng như sự đồng ý một cách có hiểu biết của những đối tượng đó cho thấy việc cho nhận trẻ em làm con nuôi là có thể chấp nhận được. Đặc biệt, theo Điều này, việc cho trẻ em làm con nuôi người nước ngoài chỉ được tiến hành khi không thể tìm được môi trường chăm sóc thay thế cho trẻ ở trong nước và phải bảo đảm trẻ phải được bảo vệ, chăm sóc với những tiêu chuẩn tương đương với các tiêu chuẩn ở trong nước. Việc cho trẻ em làm con nuôi người nước ngoài không được vì mục đích tài chính và nên được thực hiện theo quy định tại các điều ước song phương hoặc đa phương. Bổ sung cho các Điều 21 và 22, Điều 25 yêu cầu các quốc gia thành viên không được lãng quên, bỏ rơi những trẻ em đang được nuôi dưỡng, chăm sóc thay thế tại các gia đình và các cơ sở chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em. Theo quy định của Điều này, Nhà nước phải định kỳ kiểm tra hoạt động của các cơ sở chăm sóc thay thế trẻ em để bảo đảm rằng các cơ sở đó tuân thủ các tiêu chuẩn đề ra trong Công ước.
3. Trẻ em tị nạn
Theo Điều 22, trẻ em tị nạn hay đang xin quy chế tỵ nạn, đặc biệt là với những em không có người lớn đi kèm, phải được bảo vệ và giúp đỡ nhân đạo thích đáng theo đúng pháp luật quốc gia và thông lệ quốc tế (Khoản 1). Khoản 2 Điều này nêu rõ, nhằm mục đích đó, các quốc gia thành viên, nếu xét thấy thích hợp, cần hợp tác trong mọi cố gắng của Liên hợp quốc hoặc các tổ chức liên chính phủ hay phi chính phủ khác để bảo vệ, giúp đỡ, tìm kiếm cha mẹ hoặc những thành viên khác trong gia đình giúp những trẻ em tị nạn hay tìm kiếm quy chế tị nạn đoàn tụ gia đình. Trong trường hợp không thể tìm được cha mẹ hay các thành viên khác của gia đình em, thì cần phải dành cho đứa trẻ đó sự bảo vệ giống như bất kỳ trẻ em nào mà vĩnh viễn hay tạm thời bị mất môi trường gia đình vì bất kỳ lý do gì, như đã được nêu trong Công ước.
4. Đối xử với trẻ em vô thừa nhận
Liên quan đến Điều 22, Ủy ban quyền trẻ em đã thông qua Bình luận chung số 6 năm 2005 với những nội dung chi tiết về việc đối xử với trẻ em vô thừa nhận và không cha mẹ ở bên ngoài quốc gia của các em. Theo Ủy ban, nhóm trẻ em này thường phải đối mặt với những nguy cơ rất cao bị bóc lột, lạm dụng tình dục và sức lao động, cũng như bị từ chối hay cản trở việc tiếp cận với quy chế tị nạn ( đoạn 3). Ủy ban cho rằng, các quốc gia thành viên CRC có trách nhiệm với mọi trẻ em nằm trong quyền tài phán của mình, bất kể quốc tịch của các em. Nói cách khác, trẻ em nhập cư, trẻ em bị buôn bán ra nước ngoài, trẻ em tị nạn hay xin quy chế tị nạn đều phải được hưởng và bảo vệ các quyền theo công ước ( đoạn 12), nghiêm cấm sự phân biệt đối xử với những trẻ em này ( đoạn 18). Ủy ban cũng cho rằng, phù hợp với những nguyên tắc của CRC, các quốc gia thành viên có liên quan phải xác định các giải pháp ngắn hạn và dài hạn với trẻ em nhập cư, trẻ em bị buôn bán ra nước ngoài, trẻ em tị nạn hay xin quy chế tị nạn dựa trên cơ sở lợi ích tốt nhất của các em (các đoạn từ 19 đến 22), đồng thời, phải chú ý đến việc bảo vệ các quyền sống và phát triển (các đoạn 23, 24) và quyền được cung cấp thông tin và tự do bày tỏ ý kiến của trẻ em ( đoạn 25). Thêm vào đó, trong đối xử với nhóm trẻ em này, các quốc gia thành viên cũng phải tuân thủ chặt chẽ những nguyên tắc của luật nhân đạo và luật tị nạn quốc tế, bao gồm nguyên tắc không được trả về nước gốc nếu việc đó có nguy cơ đe dọa đến tính mạng, danh dự, nhân phẩm của người bị trả về (các đoạn từ 26 đến 28); nguyên tắc bảo mật thông tin, trong đó bao gồm những thông tin về đời tư của người tị nạn hay xin quy chế tị nạn (các đoạn 29, 30). Đặc biệt, Ủy ban đã nêu những hướng dẫn cụ thể với các quốc gia trong việc bảo vệ nhóm trẻ em này, bao gồm những vấn đề về thủ tục đánh giá ban đầu (các đoạn 31, 32); việc bổ nhiệm người giám hộ, tư vấn hay đại diện pháp lý cho trẻ (các đoạn t ừ 33 đến 38); việc chăm sóc và bố trí nơi ở (các đoạn 39, 40); việc bảo đảm các quyền về giáo dục (các đoạn từ 41 đến 43); quyền có mức sống thích đáng (các đoạn 41, 45); quyền được chăm sóc y tế (các đoạn t ừ 46 đến 49); chống buôn bán, bóc lột và lạm dụng tình dục (các đoạn từ 50 đến 53); không bị tuyển mộ và được bảo vệ trong bối cảnh xung đột vũ trang (các đoạn t ừ 54 đến 60); việc tiếp cận với quy chế và các quyền của người tị nạn (các đoạn từ 64 đến 78); việc đoàn tụ gia đình, hồi hương và các giải pháp bền vững khác (các đoạn t ừ 79 đến 94)...
5. Trẻ em khuyết tật
Điều 23 khẳng định trẻ em khuyết tật về thể chất hoặc tinh thần có quyền được chăm sóc, giáo dục và điều trị đặc biệt, để giúp các em có cuộc sống trọn vẹn, đầy đủ, được bảo đảm phẩm giá, thúc đẩy khả năng tự lập và hoà nhập với xã hội của các em ở mức độ cao nhất có thể được. Điều này yêu cầu các quốc gia thành viên phải khuyến khích và bảo đảm dành cho trẻ em khuyết tật cũng như những người có trách nhiệm chăm sóc các em sự giúp đỡ thích hợp và miễn phí trong các vấn đề giáo dục, đào tạo, chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, tìm kiếm việc làm và các cơ hội vui chơi, giải trí, tùy theo các nguồn lực sẵn có của quốc gia. Cũng theo Điều này, trên phương diện h ợp tác quốc tế, các quốc gia thành viên phải thúc đẩy việc trao đổi thông tin và hỗ trợ lẫn nhau trong việc phòng, chữa bệnh, giáo dục, phục hồi chức năng và đào tạo nghề cho trẻ em khuyết tật. Ở góc độ chung, việc bảo vệ quyền của trẻ em khuyết tật cần được tham chiếu với các văn kiện quốc tế khác về vấn đề này, đặc biệt là với Công ước về quyền của người khuyết tật mới được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua vào tháng 3 năm 2007. Ở góc độ cụ thể, liên quan đến Điều 23, Ủy ban quyền trẻ em đã thông qua Bình luận chung số 9 năm 2006 riêng về vấn đề quyền của trẻ em khuyết tật. Theo Ủy ban, sự phân biệt đối xử với trẻ em khuyết tật là trái với quy định trong Điều 2 CRC (nguyên tắc không phân biệt đối xử về quyền của trẻ em), và bởi vậy, một trong các biện pháp để thực hiện Điều 23 là các quốc gia thành viên phải nỗ lực hết sức để ngăn chặn và xóa bỏ sự phân biệt đối xử với trẻ em khuyết tật (các đoạn từ 8 đến 10), trong đó có việc rà soát và xóa bỏ những quy định pháp luật quốc gia có tính chất phân biệt đối xử với trẻ em khuyết tật (đoạn 17). Ủy ban cho rằng, Điều 23 đã xác định những nguyên tắc cơ bản trong việc thực thi quyền của trẻ em khuyết tật và thông điệp chính của nó là trẻ em khuyết tật phải được các xã hội đùm bọc (đoạn 11). Ủy ban cũng khuyến nghị các quốc gia thành viên cần xây dựng và thực thi các chiến lược, kế hoạch hành động quốc gia trong đó dành những nguồn nhân, vật lực cho việc hiện thực hóa các quyền của trẻ em khuyết tật (đoạn 18). Ngoài ra, trong Bình luận chung số 9, Ủy ban đã đưa ra những khuyến nghị cụ thể về nhiều khía cạnh khác về quyền của trẻ em khuyết tật, trong đó bao gồm vấn đề thu thập, phân tích dữ liệu thống kê (đoạn 19); ngân sách (đoạn 20); cơ chế phối hợp (đoạn 21); áp dụng công nghệ và hợp tác quốc tế (đoạn 22); giám sát (đoạn 24); phổ biến kiến thức và đào tạo chuyên gia (đoạn 26); những điểm chú ý khi thực hiện các nguyên tắc và quyền quan trọng trong CRC với trẻ em khuyết tật (các đoạn từ 28 đến 80).