1. Bảo vệ trẻ em khỏi tác động của ma tuý

Trẻ em rất dễ bị lôi kéo vào vòng ảnh hưởng của ma tuý; vì vậy, Điều 33 yêu cầu các quốc gia thành viên phải tiến hành các biện pháp thích hợp để bảo vệ trẻ em khỏi việc sử dụng bất hợp pháp chất ma tuý và bị lôi kéo vào việc sản xuất, buôn bán và sử dụng trái phép chất ma tuý. Các chất ma tuý ở đây được hiểu là những chất kích thích bị cấm trong các điều ước quốc tế (không bao gồm rượu và thuốc lá).

2. Bảo vệ trẻ em khỏi bị bắt cóc và buôn bán

Bắt cóc và buôn bán trẻ em cũng là một trong những hành vi vi phạm nghiêm trọng nhất các quyền của con người nói chung và quyền của trẻ em nói riêng. Điều 35 khẳng định: trẻ em có quyền được Nhà nước bảo vệ chống bắt cóc, buôn bán vì bất kỳ mục đích gì, dưới bất kỳ hình thức nào như để làm con nuôi, để khai thác tình dục, khiêu dâm hay khai thác các bộ phận cơ thể. Liên quan đến vấn đề trên, cũng cần tham chiếu với Nghị định thư không bắt buộc thứ hai của Công ước về buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn hoá phẩm khiêu dâm trẻ em (năm 2000). Theo Nghị định th ư này, buôn bán trẻ em được hiểu là hình thức mua bán có tổ chức mà trẻ em là đối tượng bị đem trao đổi, còn bắt cóc trẻ em được hiểu là việc bắt và đưa trẻ em đi một cách bất hợp pháp nhằm các mục đích tống tiền, làm con nuôi, khai thác tình dục, khiêu dâm...

3. Bảo vệ trẻ em khỏi các hình thức bóc lột khác

Điều 36 quy định Nhà nước phải bảo vệ trẻ em khỏi những hình thức bóc lột khác ngoài các hình thức đã được đề cập trong các Điều 32, 33, 34 và 35 của Công ước. Những dạng thức bóc lột khác có thể là bất kỳ hành động nào gây tổn hại đến cuộc sống của trẻ em theo bất kỳ khía cạnh nào.

4. Đối xử với trẻ em làm trái pháp luật

Các Điều 37 và 40 quy định về những tiêu chuẩn cơ bản trong áp dụng tư pháp với trẻ em làm trái pháp luật. Nguyên tắc nền tảng trong vấn đề này là trẻ em làm trái pháp luật phải được đối xử theo cách thức nhằm nâng cao ý thức của các em về nhân phẩm, giá trị cá nhân, có xem xét đến độ tuổi và nhằm mục đích hội nhập các em vào xã hội, chứ không vì mục đích trừng phạt. Công ước khuyến khích các quốc gia áp dụng các biện pháp xử lý khác với biện pháp hình sự và xác lập những thủ tục, cơ chế riêng để đối xử với trẻ em làm trái pháp luật, và yêu cầu sử dụng hệ thống toà án và ác thiết chế hỗ trợ tư pháp với người chưa thành niên. Công ước khẳng định trẻ em cũng phải được áp dụng các tiêu chuẩn tối thiểu thông thường về xét xử công bằng, thể hiện ở các nguyên tắc không hồi tố, nguyên tắc suy đoán vô tội, các quyền về bào chữa, kháng cáo, trợ giúp pháp lý... Việc bắt, giam giữ, bỏ tù trẻ em phải được tiến hành theo đúng pháp luật và chỉ được coi là biện pháp cuối cùng, với thời gian thích hợp ngắn nhất. Không được giam giữ trẻ em chung với người lớn, trừ trường hợp vì lợi ích tốt nhất của trẻ. Đặc biệt, các quốc gia phải bảo đảm rằng: trẻ em không bị tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hay nhục hình trong suốt các giai đoạn của tố tụng hình sự, cũng như không bị xử tử hình và chung thân.

5. Bảo vệ trẻ em trong xung đột vũ trang

Điều 38 yêu cầu các quốc gia thành viên phải bảo đảm rằng, trẻ em dưới 15 tuổi không phải trực tiếp tham gia chiến sự, đồng thời, khi tuyển mộ những trẻ em từ 15 đến dưới 18 tuổi vào lực lượng vũ trang phải thực hiện theo thứ tự ưu tiên từ cao tuổi xuống thấp. Ngoài ra, Điều này cũng thừa nhận quyền của những trẻ em bị ảnh hưởng của xung đột vũ trang được bảo vệ, chăm sóc. Liên quan đến vấn đề trên, cần tham chiếu với Nghị định thư không bắt buộc thứ hai của Công ước về việc lôi cuốn trẻ em vào xung đột vũ trang (năm 2000).

Điều 39 đề cập quyền của những trẻ em là nạn nhân trong xung đột vũ trang, bị bóc lột, bỏ mặc, lạm dụng, tra tấn hay bất kỳ hình thức đối xử, xử phạt độc ác, vô nhân đạo và nhục hình được Nhà nước bảo đảm sự điều trị, chăm sóc, giúp các em phục hồi giúp và tái hoà nhập vào xã hội.

6. Huy động toàn xã hội chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em

Trong thời gian qua, công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em còn gặp nhiều khó khăn. Trẻ em có nguy cơ cao bị xâm hại trên môi trường mạng do được tiếp cận, sử dụng phổ biến các thiết bị công nghệ, các trường học chuyển sang dạy học trực tuyến. Một bộ phận trẻ em thiếu về dinh dưỡng, thiếu sự chăm sóc chu đáo của người lớn do hoàn cảnh mưu sinh của cha mẹ và người đỡ đầu. Ngoài ra, Việt Nam vẫn có khoảng trên 1,5 triệu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và trên 2 triệu trẻ em có nguy cơ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt. Một số vụ việc vi phạm quyền trẻ em, đặc biệt là bạo lực, xâm hại trẻ em trong các cơ sở giáo dục, trẻ em bị xâm hại thân thể và xâm hại tình dục vẫn diễn biến phức tạp, chưa được ngăn chặn hiệu quả. Tình trạng trẻ em bị tai nạn thương tích, bị lạm dụng sức lao động, trẻ em vi phạm pháp luật có xu hướng gia tăng....Quyền trẻ em, đặc biệt quyền được sống an toàn, lành mạnh, được bảo vệ khỏi xâm hại đang trở thành một trong những vấn đề toàn cầu, được Đảng, Nhà nước và xã hội luôn quan tâm. Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc bảo đảm thực hiện quyền trẻ em như kinh tế tăng trưởng sẽ tạo tiền đề quan trọng về nguồn lực cho việc thực hiện các mục tiêu về trẻ em; an sinh xã hội cho người dân, đặc biệt là việc thực hiện các chương trình giảm nghèo, phát triển nông thôn mới, phát triển giáo dục, y tế, chăm sóc xã hội tác động đến chất lượng cuộc sống của trẻ em. Cách mạng khoa học công nghệ, hội nhập quốc tế có những tác động cả tích cực và tiêu cực đến việc thực hiện các quyền trẻ em và bổn phận của trẻ em; biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh phức tạp, khó lường tác động trực tiếp và lâu dài đến sự phát triển toàn diện và cuộc sống an toàn của trẻ em. Quá trình đô thị hóa và di cư làm gia tăng nguy cơ trẻ em “bị bỏ lại đằng sau” do không được tiếp cận đầy đủ chính sách, dịch vụ hỗ trợ, thiếu sự chăm sóc trực tiếp của cha mẹ; các giá trị đạo đức truyền thống thay đổi, lối sống thực dụng, thiếu gương mẫu của người lớn...Thời gian tới, để tiếp tục thực hiện hiệu quả đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác trẻ em, trong đó có bảo vệ trẻ em, góp phần thực hiện thành công các mục tiêu của Liên hợp quốc về quyền trẻ em mà Việt Nam đã cam kết thực hiện, cần tập trung các nội dung sau: Thứ nhất, tiếp tục quán triệt và thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 20-CT/TW, ngày 5/11/2012 của Bộ Chính trị về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em trong hình hình mới”, các văn bản chỉ đạo của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em; củng cố, nâng cao nhận thức về vị trí, tầm quan trọng của công tác này đối với sự phát triển bền vững của đất nước và mỗi địa phương. Thứ hai, hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách bảo đảm thực hiện quyền trẻ em và giải quyết các vấn đề về trẻ em, như về việc bảo vệ trẻ em, phòng chống xâm hại trẻ em, tư pháp thân thiện với trẻ em; trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em dân tộc thiểu số và miền núi, trẻ em trong các hộ gia đình nghèo, cận nghèo, trẻ em di cư và trong các gia đình công nhân tại các khu công nghiệp, trẻ em bị ảnh hưởng thiên tai, thảm họa; hỗ trợ khám bệnh, chữa bệnh, cung cấp thẻ bảo hiểm y tế cho từng độ tuổi trẻ em... Thứ ba, đề cao trách nhiệm các ban, bộ, ngành, đoàn thể, cơ quan Trung ương và cấp ủy, chính quyền các địa phương trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện các chương trình, đề án, kế hoạch về chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em trên địa bàn và theo lĩnh vực. Tiếp tục phát huy vai trò của hệ thống chính trị và huy động toàn xã hội tham gia tích cực, hiệu quả vào công tác này. Chú trọng công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát việc thực hiện luật pháp, chính sách và các chương trình, đề án, kế hoạch hành động về trẻ em từ Trung ương đến cơ sở. Thứ tư, tăng cường phối hợp liên ngành về thực hiện quyền trẻ em. Xây dựng, hoàn thiện cơ chế, quy trình phối hợp cấp bộ, ngành về một số nội dung, hoạt động trong lĩnh vực trẻ em, đặc biệt trong công tác phòng, chống xâm hại trẻ em, phòng, chống tai nạn, thương tích trẻ em. Nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan tư pháp các cấp trong phòng ngừa, phát hiện, hỗ trợ trẻ em trong các vụ việc, vụ án bạo lực, xâm hại tình dục trẻ em. Thứ năm, không ngừng đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục kiến thức pháp luật, kỹ năng, hoạt động về thực hiện quyền trẻ em và bảo vệ trẻ em cho mọi thành viên trong gia đình, nhà trường và cho chính trẻ em. Đa dạng các hình thức truyền thông, giáo dục, vận động xã hội trên các phương tiện thông tin đại chúng, Internet, viễn thông và mạng xã hội, truyền thông trực tiếp đến gia đình, cơ sở giáo dục và cộng đồng. Thứ sáu, khẩn trương triển khai và quyết liệt thực hiện Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em; Chương trình quốc gia bảo vệ trẻ em; Chương trình thúc đẩy quyền tham gia của trẻ em; Chương trình phòng, chống bạo lực, xâm hại trẻ em; Chương trình phòng, chống tai nạn thương tích trẻ em.... Các bộ, ngành, địa phương quan tâm rà soát, bố trí đủ nguồn lực từ ngân sách và tăng cường huy động các nguồn lực xã hội phục vụ công tác trẻ em và bảo vệ trẻ em, trong đó đặc biệt ưu tiên đầu tư cho trẻ em ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng khó khăn…. Thứ bảy, phát triển hệ thống cung cấp dịch vụ đáp ứng việc thực hiện quyền trẻ em, ưu tiên hệ thống dịch vụ bảo vệ trẻ em, lồng ghép và phối hợp giữa các dịch vụ y tế, giáo dục, tư pháp và các dịch vụ an sinh xã hội khác. Đào tạo phát triển đội ngũ nhân viên công tác xã hội chuyên nghiệp và kết hợp với kiêm nhiệm, bán chuyên nghiệp trong các đoàn viên, hội viên của các tổ chức chính trị - xã hội và một số tổ chức xã hội đáp ứng nhu cầu cung cấp dịch vụ bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em có chất lượng và hiệu quả. Nghiên cứu, hình thành các mạng lưới, mô hình cung cấp dịch vụ bảo vệ, chăm sóc trẻ em có sự lồng ghép, phối hợp, chuyển tuyến đa ngành, đa cấp theo hình thức dịch vụ một cửa và gói dịch vụ, tiếp cận trẻ em, cha mẹ và người chăm sóc trẻ tại gia đình và cộng đồng.