Bắt giữ là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự.

Ở Việt Nam, trong thời kì phong kiến đã có một số quy định về thẩm quyền bắt người, giam giữ tiến bộ. Các quy định này đã hạn chế sự tuỳ tiện, lộng hành của hệ thống nha dịch và cường hào ác bá. Bộ Quốc triều hình luật (luật Hồng Đức) đã có nhiều quy định tiến bộ về việc bắt, giữ, giam. Tại Bộ luật này ngoại trừ chương Danh lệ, chương Tạp luật, chương Hộ hôn, chương Điển sản còn trong hầu hết các chương đều có quy định về việc bắt, giữ, giam. Đặc biệt tại chương Đoán ngục có tới 18 điều, chương Bộ vong có 9 điều quy định liên quan đến việc bắt và giam giữ.

Bộ luật Gia Long, trong các quyển 18, 19 có nhiều quy định về việc bắt và giam giữ như Điều 21, Điều 22, Điều 23, Điều 28...

Sau khi giành được chính quyền năm 1945, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản tố tụng hình sự quy định về thủ tục bắt người như Luật số 103/SL/005 ngày 20.5.1957; Sắc luật 002/SL ngày 18.6.1957; Sắc __ luật số 02-SL ngày 15.3.1976. Để cụ thể hoá các quy định của Luật số 103-SL/005 ngày 10.7.1957, Thủ ` tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 301-TTg trong đó có chương II quy định về việc tạm giữ, tạm giam, tạm tha.

Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 đã quy định khá cụ thể các trường hợp bắt: bắt bị can, bị cáo để tạm giam, bắt người trong trường hợp khẩn cấp; bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã. Bộ luật cũng quy định các vấn đề về thẩm quyền, đối tượng và thủ tục áp dụng bắt trong các trường hợp cụ thể. Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2008 thì:

Bắt giữ được áp dụng đối với người đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện, người thực hiện tội phạm đang bị đuổi bắt hoặc người đang bị truy nã để ngăn chặn tội phạm, đảm bảo cho hoạt động phát hiện, xử lí tội phạm hoặc bảo đảm thi hành án. Bất kì người nào cũng có quyền bắt giữ các đối tượng nêu trên và dẫn giải đến cơ quan công an, Viện kiểm sát hoặc Uỷ ban nhân dân nơi gần nhất. Trong khi bắt giữ có quyền tước vũ khí của người bị bắt (Điều 82).

Sau khi nhận người bị bắt, cơ quan điều tra phải lấy lời khai ngay và trong thời hạn 24 giờ phải ra quyết định tạm giữ hoặc trả tự do cho người bị bắt. Đối với người bị truy nã thì sau khi lấy lời khai, cơ quan điều tra phải thông báo ngay cho cơ quan đã ra lệnh truy nã và giao ngay người đó cho trại tạm giam nơi gần nhất để giam giữ tạm thời trước khi cơ quan ra lệnh truy nã đến nhận (Điều 83).

Biện pháp bảo đảm trật tự phiên toà do chủ toạ phiên toà quyết định. Trong trường hợp này, lệnh bắt giữ của chủ toạ phiên toà do cảnh sát nhân dân bảo vệ phiên toà thực hiện.

1. Bắt giữ là gì

Bắt giữ là Biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự.

Bắt và tạm giữ người bị tình nghi phạm tội có thể bị phạt tù mà không cần lệnh của cơ quan điều tra, viện kiểm sát. Bắt giữ là việc làm cấp bách nhằm xác định và củng cố các chứng cứ của tội phạm. Bắt giữ là một trong những biện pháp ngăn chặn cho phép cơ quan điều tra,viện kiểm sát áp dụng để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố,xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội, cũng như khi cần bảo đảm thi hành án.

Bộ luật tố tụng hình sự quy định cụ thể về các điều kiện và thủ tục bắt giữ cần phải tuân thủ để việc bắt giữ là hợp pháp, nếu không thì có thể bị truy cứu trách nhiệm về hành vi bắt giữ người trái phép.

Những người vi phạm trật tự phiên toà thì tùy trường hợp, có thể bị chủ toạ phiên toà cảnh cáo, phạt tiền, buộc rời khỏi phòng xử án hoặc bị bắt giữ.

2. Các trường hợp được phép bắt người

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 109 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (BLTTHS) thì có 05 trường hợp được bắt người:

Bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp

Khi thuộc một trong các trường hợp khẩn cấp sau đây thì được giữ người:

+ Có đủ căn cứ để xác định người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;

+ Người cùng thực hiện tội phạm hoặc bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt nhìn thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn;

+ Có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở hoặc nơi làm việc hoặc trên phương tiện của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ.

Sau khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp, nếu xét thấy cần thiết, những người quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 110 ra lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp. Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp phải gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp kèm theo tài liệu liên quan đến việc giữ người để xét phê chuẩn.

Bắt người phạm tội quả tang

- Đối với người đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm mà bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt thì bất kỳ người nào cũng có quyền bắt và giải ngay người bị bắt đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc Ủy ban nhân dân nơi gần nhất;

Khi bắt người phạm tội quả tang thì người nào cũng có quyền tước vũ khí, hung khí của người bị bắt.

- Trường hợp Công an xã, phường, thị trấn, Đồn Công an phát hiện bắt giữ, tiếp nhận người phạm tội quả tang thì thu giữ, tạm giữ vũ khí, hung khí và bảo quản tài liệu, đồ vật có liên quan, lập biên bản bắt giữ người, lấy lời khai ban đầu, bảo vệ hiện trường theo quy định của pháp luật; giải ngay người bị bắt hoặc báo ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.

Bắt người đang bị truy nã

- Đối với người đang bị truy nã thì bất kỳ người nào cũng có quyền bắt và giải ngay người bị bắt đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc Ủy ban nhân dân nơi gần nhất;

Khi bắt người đang bị truy nã thì người nào cũng có quyền tước vũ khí, hung khí của người bị bắt.

- Trường hợp Công an xã, phường, thị trấn, Đồn Công an phát hiện bắt giữ, tiếp nhận người đang bị truy nã thì thu giữ, tạm giữ vũ khí, hung khí và bảo quản tài liệu, đồ vật có liên quan, lập biên bản bắt giữ người, lấy lời khai ban đầu; giải ngay người bị bắt hoặc báo ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.

Bắt bị can, bị cáo để tạm giam

- Người thi hành lệnh, quyết định phải đọc lệnh, quyết định; giải thích lệnh, quyết định, quyền và nghĩa vụ của người bị bắt và phải lập biên bản về việc bắt; giao lệnh, quyết định cho người bị bắt.

- Khi tiến hành bắt người tại nơi người đó cư trú phải có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn và người khác chứng kiến. Khi tiến hành bắt người tại nơi người đó làm việc, học tập phải có đại diện cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập chứng kiến. Khi tiến hành bắt người tại nơi khác phải có sự chứng kiến của đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn nơi tiến hành bắt người.

Lưu ý: Không được bắt người vào ban đêm, trừ trường hợp phạm tội quả tang hoặc bắt người đang bị truy nã.

Bắt người bị yêu cầu dẫn độ

Theo Tổ chức cảnh sát quốc tế INTERPOL, dẫn độ là việc một quốc gia (quốc gia được yêu cầu) trao trả một cá nhân đang ở trong lãnh thổ mình cho quốc gia khác (quốc gia yêu cầu) để xét xử hoặc thi hành bản án đã có hiệu lực đối với hành vi phạm tội của cá nhân này trên lãnh thổ của quốc gia yêu cầu”

Việc bắt người trong trường hợp bị yêu cầu dẫn độ chỉ được tiến hành khi có đủ các căn cứ sau:

  • Tòa án đã có quyết định xem xét yêu cầu dẫn độ đối với người đó hoặc quyết định dẫn độ đối với người đó đã có hiệu lực pháp luật;
  • Có căn cứ cho rằng người bị yêu cầu dẫn độ bỏ trốn hoặc gây khó khăn, cản trở việc xem xét yêu cầu dẫn độ hoặc thi hành quyết định dẫn độ.

Xử lý hành vi bắt người trái pháp luật

Việc bắt người theo quy định tại 05 trường hợp trên được xem ra bắt người đúng pháp luật. Ngoài các trường hợp đã nêu hoặc thuộc các trường hợp đã nêu nhưng việc tiến hành không đúng căn cứ, thẩm quyền, thủ tục thì đều bị xem là bắt người trái pháp luật và đều có thể bị xử lý.

Điều 157 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về khung hình phạt cho tội bắt người trái quy định pháp luật với 03 mức:

  • Phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm;
  • Phạt tù từ 02 đến 07 năm;
  • Phạt tù từ 05 đến 12 năm.

Tùy theo tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi mà người phạm tội sẽ phải chịu các mức hình phạt khác nhau. Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 đến 05 năm.

1.Người nào bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 153 và Điều 377 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Đối với người đang thi hành công vụ;

d) Phạm tội 02 lần trở lên;

đ) Đối với 02 người trở lên;

e) Đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;

g) Làm cho người bị bắt, giữ, giam hoặc gia đình họ lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn;

h) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của người bị bắt, giữ, giam mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:

a) Làm người bị bắt, giữ, giam chết hoặc tự sát;

b) Tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục nhân phẩm của người bị bắt, giữ, giam;

c) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của người bị bắt, giữ, giam mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.