Có thể thấy BLTTHS năm 2015 đã quy định tương đối chi tiết về biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp, cụ thể là các quy định liên quan đến các trường hợp hay nói cách khác là các căn cứ giữ người; Thẩm quyền ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp; và Thủ tục giữ người trong trường hợp khẩn cấp (Người có thẩm quyền ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp; Thi hành lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp; Những việc cần làm ngay sau khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp khoản 4 Điều 110). Có thể nói những quy định này đã tạo cơ sở pháp lý cho việc áp dụng pháp luật trong thực tiễn, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm, góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong TTHS. Biện pháp này vẫn còn những hạn chế cần được khắc phụ cụ thể:

1.Về mặt kỹ thuật lập pháp

Chưa có sự thống nhất giữa quy định tại Điều 109 và Điều 110 của BLTTHS về biện pháp ngăn chặn. Cụ thể như sau:

Khoản 1 Điều 109 quy định: “Để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội hoặc để bảo đảm thi hành án, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong phạm vi thẩm quyền của mình có thể áp dụng biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh.”

Như vậy, biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp và biện pháp bắt người là hai biện pháp ngăn chặn độc lập với nhau. Và đối với biện pháp bắt người lại được chia thành 5 trường hợp tại khoản 2 Điều 109 BLTTHS 2015: “ Các trường hợp bắt người gồm bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang, bắt người đang bị truy nã, bắt bị can, bị cáo để tạm giam, bắt người bị yêu cầu dẫn độ.”

Qua đó, có thể thấy bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp là một trường hợp của biện pháp bắt người hoàn toàn độc lập với biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp. Tuy nhiên, Điều 110 BLTTHS 2015 với tên gọi của điều luật là “Giữ người trong trường hợp khẩn cấp”, lại điều chỉnh hai nội dung đó là về biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp và trường hợp bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp (khoản 4 Điều 110).

Quy định như vậy là chưa hợp lý. Xét về mặt kỹ thuật lập pháp việc quy định gộp hai biện pháp ngăn chặn lại chung một điều luật là chưa phù hợp. Hơn nữa, tên gọi của điều luật chưa bao hàm hết được nội dung của điều luật.

Thepo tác giả nên thay đổi tên điều 110 thành “ Giữ người và bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp “ hoặc tách điều 110 thành hai điều luật độc lập, một điều quy định về biện pháp ngăn chặn: giữ người trong trường hợp khẩn cấp; một điều quy định về: bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp

2. Về thẩm quyền

Khoản 2 Điều 117 quy định: “Những người có thẩm quyền ra lệnh giữ người quy định tại khoản 2 Điều 110 của Bộ luật này có quyền ra quyết định tạm giữ.”

Khoản 2 Điều 110 quy định về thẩm quyền ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp như sau: “Những người sau đây có quyền ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp: 

a) Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp; 

b) Thủ trưởng đơn vị độc lập cấp trung đoàn và tương đương, Đồn trưởng Đồn biên phòng, Chỉ huy trưởng Biên phòng Cửa khẩu cảng, Chỉ huy trưởng Bộ đội biên phòng tỉnh, thành phố trực truộc trung ương, Cục trưởng Cục trinh sát biên phòng Bộ đội biên phòng, Cục trưởng Cục phòng, chống ma túy và tội phạm Bộ đội biên phòng, Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng, chống ma túy và tội phạm Bộ đội biên phòng; Tư lệnh vùng lực lượng Cảnh sát biển, Cục trưởng Cục Nghiệp vụ và pháp luật lực lượng Cảnh sát biển, Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng, chống tội phạm ma túy lực lượng Cảnh sát biển; Chi cục trưởng Chi cục Kiểm ngư vùng; 

c) Người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng.”

Về thẩm quyền áp dụng theo quy định tại khoản 2 Điều 110 BLTTHS năm 2015, thẩm quyền áp dụng biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp ngoài Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra còn có chủ thể là “người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển rời sân bay, bến cảng” các chủ thể này không thuộc những chủ thể được giao nhiệm vụ tiến hành các hoạt động điều tra theo Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015 trái ngược với khái niệm quy định tại Điều 109 về biện pháp ngăn chặn thì chủ thể được áp dụng các biện pháp ngăn chặn chỉ có thể là cơ quan , người có thẩm quyền tiến hành tố tụng nếu nhà làm luật muốn đặt cách cho những người quy định tại điểm c khoản 2 điều 110 BLTTHS năm 2015 có thẩm quyền ra lệnh giữ người thì theo tác giả nên sửa lại khoản 1 điều 109 thành “Để kịp thời ngăn chặn tội phạm... Cơ quan, người có thẩm quyền trong phạm vi thẩm quyền của mình có thể áp dụng biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp...”

3. Bất cập tại điểm c khoản 2 điều 110

 

 Tiếp nối thẩm quyền của những người quy định tại điểm c khoản 2 ở trên có một số điều bất cập như sau : Việc BLTTHS quy định tại khoản 2 điều 110 là những người có thẩm quyền ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp và những người này khi ra lệnh giữ người phải theo đúng quy định tại khoản 2 Điều 113 : “khi tiến hành giữ người tại nơi người đó cư trú phải có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn và người khác chứng kiến “ tuy nhiên trường hợp người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp sẽ gặp khó khăn trong việc thực hiện đúng quy định của điều 113 BLTTHS năm 2015 về người chứng kiến vì trên tàu bay, tàu biển không thể có sự chứng kiến của đại diện chính quyền xã, phường thị trấn. Do đó, tác giả xin kiến nghị cần quy định rằng: “Việc thi hành lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp của người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển rời khỏi sân bay, bến cảng phải có sự chứng kiến của người có mặt trên tàu bay, tàu biển đó” Ngoài ra tại khoản 4 Điều 110 quy định: “Sau khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp, những người quy định tại điểm c khoản 2 Điều này phải giải ngay người bị giữ kèm theo tài liệu liên quan đến việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp đến Cơ quan điều tra nơi có sân bay hoặc bến cảng đầu tiên tàu trở về.”. Nếu những chủ thể tại điểm c khoản 2 phải giải người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp ngay sau khi cập bến thì không thể ra quyết định tạm giữ được, khoản 4 điều 110 BLTTHS cũng chỉ quy định “......những người quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều này phải ra quyết định tạm giữ, ra lệnh bắt người bị giữ hoặc trả tự do ngay cho người đó” quy định này cũng thể hiện không có người thuộc điểm c khoản 2 ra quyết định tạm giữ mà trong khi đó điều 117 BLTTHS quy định thẩm quyền ra quyết định tạm giữ là những người tại khoản 2 điều 110 BLTTHS từ hai điều trên em nhận thấy cần phải sửa đổi điều 117 thành : “ Thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giữ được quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 110 BLTTHS năm 2015” 

4. Biên bản giữ người

Pháp luật tố tụng hình sự chỉ quy định việc lập biên bản khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp, chưa quy định việc lập biên bản khi về đến trụ sở Cơ quan điều tra, Cơ quan tiến hành một số hoạt động điều tra. Do đó, em cho rằng cần bổ sung thêm quy định: Khi Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra áp giải người về trụ sở thì phải lập biên bản giao nhận giữ người thi hành lệnh và đại diện Cơ quan của đơn vị. Việc quy định như trên sẽ giúp cho Cơ quan có thẩm quyền xác định được cụ thể, chính xác thời điểm bắt đầu tính thời hạn tạm giữ khi áp dụng biện pháp giữ người, bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp. Về thời hạn quyết định tạm giữ đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp phải được tính từ khi lập biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp, có như thế mới đảm bảo quyền của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp. Bởi vì, từ khi bị giữ họ đã bị hạn chế một số quyền công dân như: Tự do đi lại, phát ngôn...; đồng thời, nếu trường hợp Viện kiểm sát không phê chuẩn quyết định bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp của Cơ quan điều tra và sau này không có căn cứ xử lý hình sự người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, trường người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp yêu cầu bồi thường, mới có cơ sở xác định trách nhiệm cũng như căn cứ để bồi thường.   

 

 5. Về đối tượng của của biện pháp bắt người bị giữ

 

Khoản 4 Điều 110 quy định: “Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp hoặc nhận người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp thì Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải lấy lời khai ngay và những người quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều này phải ra quyết định tạm giữ, ra lệnh bắt người bị giữ hoặc trả tự do ngay cho người đó. Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp phải gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền kèm theo tài liệu liên quan đến việc giữ người để xét phê chuẩn.

 Sau khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp, những người quy định tại điểm c khoản 2 Điều này phải giải ngay người bị giữ kèm theo tài liệu liên quan đến việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp đến Cơ quan điều tra nơi có sân bay hoặc bến cảng đầu tiên tàu trở về. Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi tiếp nhận người bị giữ, Cơ quan điều tra phải lấy lời khai ngay và những người quy định tại điểm a khoản 2 Điều này phải ra quyết định tạm giữ, ra lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp hoặc trả tự do ngay cho người đó. Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp phải gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp kèm theo tài liệu liên quan đến việc giữ người để xét phê chuẩn.”

Như vậy, trong thời hạn 12 giờ kể từ khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp hoặc nhận người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, những chủ thể quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản 2 Điều 110 phải tiến hành lấy lời khai và sau đó quyết định việc tạm giữ và bắt người bị giữ. Như vậy, việc lấy lời khai của những đối tượng này có nhằm mục đích làm rõ nguyên nhân họ bị giữ trong trường hợp khẩn cấp hay không? Và chỉ với hoạt động lấy lời khai liệu có đủ căn cứ để những cơ quan đó làm sáng tỏ lý do những đối tượng trên bị giữ trong trường hợp khẩn cấp hay không?

Khoản 4 Điều 110 cũng quy định những người được quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 110 phải ra quyết định tạm giữ, ra lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp. Như vậy, ở đây có thể hiểu lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp được ban hành sau khi những đối tượng trên đã có quyết định tạm giữ. Vậy đối tượng của bắt người ở đây là bắt người bị tạm giữ chứ không phải là bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp. Theo tác giả nên quy định về trình tự ra các lệnh và quyết định để không bị nhầm lẫn về đối tượng. Cụ thể phải ra lệnh bắt người bị giữ đó trước rồi mới ra quyết định tạm giữ. Quy định như thế là phù hợp, bởi trên thực tế có những trường hợp không tạm giữ được đối tượng nếu chưa bắt được họ. Theo tác giả, nên sửa đổi lại khoản 4 Điều 110 theo hướng như sau: “Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp hoặc nhận người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp thì Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải lấy lời khai ngay và tiến hành một số hoạt động làm sáng tỏ việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp và những người quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều này phải ra lệnh bắt người bị giữ, ra quyết định tạm giữ quyết định tạm giữ hoặc trả tự do ngay cho người đó…..

 Sau khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp, những người quy định tại điểm c khoản 2 Điều này phải giải ngay người bị giữ kèm theo tài liệu liên quan đến việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp đến Cơ quan điều tra nơi có sân bay hoặc bến cảng đầu tiên tàu trở về. Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi tiếp nhận người bị giữ, Cơ quan điều tra phải lấy lời khai ngay và tiến hành một số hoạt động làm sáng tỏ việc giữu người trong trường hợp khẩn cấp và những người quy định tại điểm a khoản 2 Điều này phải ra lệnh bắt người bị giữ, ra quyết định tạm giữ hoặc trả tự do ngay cho người đó….”

Và để tương thích với Điều 110 thì khoản 1 Điều 117 cần được sửa đổi như sau: “Tạm giữ có thể áp dụng đối với người bị bắt vì bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã.”

Bộ phận tư vấn pháp luật - Luật Minh Khuê

Trân trọng !