1. Bắt người phạm tội quả tang là gì ?

Quyền tự do về thân thể là một trong những quyền cơ bản của công dân, theo Hiến pháp và pháp luật hiện hành quyền này chỉ có thể bị hạn chế trong một số trường hợp nhất định, bắt người phạm tội quả tang là một trong số trường hợp đó.

Bắt người phạm tội quả tang là bắt người đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện hoặc đuổi bắt.

Bắt người phạm tội quả tang là những biện pháp ngăn chặn được cơ quan tố tụng áp dụng để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc ngăn chặn người mới phạm tội bỏ trốn, gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội.
 

2. Quy định của pháp luật về bắt người phạm tội quả tang

Căn cứ Điều 111 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định

"Điều 111. Bắt người phạm tội quả tang

1. Đối với người đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm mà bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt thì bất kỳ người nào cũng có quyền bắt và giải ngay người bị bắt đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc Ủy ban nhân dân nơi gần nhất. Các cơ quan này phải lập biên bản tiếp nhận và giải ngay người bị bắt hoặc báo ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.

2. Khi bắt người phạm tội quả tang thì người nào cũng có quyền tước vũ khí, hung khí của người bị bắt.

3. Trường hợp Công an xã, phường, thị trấn, Đồn Công an phát hiện bắt giữ, tiếp nhận người phạm tội quả tang thì thu giữ, tạm giữ vũ khí, hung khí và bảo quản tài liệu, đồ vật có liên quan, lập biên bản bắt giữ người, lấy lời khai ban đầu, bảo vệ hiện trường theo quy định của pháp luật; giải ngay người bị bắt hoặc báo ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền."

 

2.1. Các trường hợp được bắt người phạm tội quả tang

Theo Điều 111 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, có 03 trường hợp được bắt người phạm tội quả tang như sau:
- Trường hợp 1: Người đang thực hiện tội phạm thì bị phát hiện.
+ Đang thực hiện tội phạm là trường hợp phạm tội quả tang thường hay gặp trong thực tế. Trong trường hợp này, người đang thực hiện tội phạm là người đang thực hiện hành vi phạm tội được quy định trong bộ luật hình sự nhưng chưa hoàn thành tội phạm hoặc chưa kết thúc việc phạm tội thì bị phát hiện. Trong trường hợp hành vi đang thực hiện một tội phạm có cấu thành hình thức thì mặc dù hậu quả vật chất chưa xảy ra vẫn coi là hành vi đang thực hiện tội phạm.
+ Đối với những tội phạm mà hành vi phạm tội được thực hiện trong một khoảng thời gian dài, không bị gián đoạn như tội tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng, tội tràng trữ trái phép chất nổ, chất độc, chất cháy, chất phóng xạ… thì trong suốt thời gian đó bị coi là đang thực hiện tội phạm. Vì vậy, thời điểm nào tội phạm bị phát giác cũng là phạm tội quả tang.
- Trường hợp 2: Ngay sau khi người thực hiện tội phạm thực hiện hành vi phạm tội thì bị phát hiện.

+ Đây là trường hợp kẻ phạm tội vừa thực hiện tội phạm xong chưa kịp chạy trốn hoặc đang cất giấu công cụ, phương tiện, đang xóa những dấu vết của tội phạm trước khi chạy trốn thì bị phát hiện.

+ Cần phải lưu ý để bắt người phạm tội theo trường hợp quả tang này phải có chứng cứ chứng minh là kẻ đó vừa gây tội xong, chưa kịp chạy trốn và sự phát hiện, bắt giữ người phạm tội phải xảy ra tức thời sau khi tội phạm được thực hiện. Thông thường, các vật chứng (còn gọi là tang vật) mà người phạm tội chưa kịp cất giấu, tẩu tán là những bằng chứng khiến kẻ phạm tội không thể chối cãi về hành vi phạm tội của mình vừa thực hiện xong. Nhưng trong các trường hợp không có vật chứng, sự có mặt của những người làm chứng cũng cho phép được bắt người phạm tội theo trường hợp quả tang này.
- Trường hợp 3: Người thực hiện tội phạm đang bị đuổi bắt
+ Trong trường hợp phạm tội quả tang này, người phạm tội vừa thực hiện tội phạm xong hoặc đang thực hiện tội phạm thì bị phát hiện nên đã chạy trốn và bị đuổi bắt.
+ Trong trường hợp này, việc đuổi bắt phải liền ngay sau khi chạy trốn thì mới có cơ sở xác định đúng người phạm tội tránh bắt nhầm phải người không thực hiện tội. Nếu việc đuổi bắt bị gián đoạn về thời gian so với hành vi chạy trốn thì không được bắt quả tang mà có thể bắt theo trường hợp khẩn cấp.
 

2.2. Thẩm quyền bắt người phạm tội quả tang thuộc về ai?

Để kịp thời đấu tranh phòng, chống tội phạm, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định bất kỳ người nào cũng có quyền bắt, tước vũ khí, hung khí của người phạm tội quả tang.

 

2.3. Trình tự, thủ tục bắt người phạm tội quả tang

Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự thì trường hợp Công an xã, phường, thị trấn, Đồn Công an phát hiện bắt giữ, tiếp nhận người phạm tội quả tang thì thu giữ, tạm giữ vũ khí, hung khí và bảo quản tài liệu, đồ vật có liên quan, lập biên bản bắt giữ người, lấy lời khai ban đầu, bảo vệ hiện trường theo quy định của pháp luật; giải ngay người bị bắt hoặc báo ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền

Trường hợp người bắt người phạm tội quả tang không phải là Công an xã, phường, thị trấn, Đồn Công an mà sau khi bắt phải giải ngay người bị bắt đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc Ủy ban nhân dân nơi gần nhất. Các cơ quan này phải lập biên bản tiếp nhận và giải ngay người bị bắt hoặc báo ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.

 

3. Cách lập biên bản đối với người phạm tội quả tang

Việc lập biên bản bắt người phạm tội quả tang phải tuân thủ theo đúng quy định tại Điều 115 và Điều 133 BLTTHS:

Thứ nhất: Phải lập theo mẫu thống nhất (Mẫu số: 54 ban hành theo Thông tư số 61/2017/TT-BCA, ngày 14/12/2017 của Bộ Công an).

Khi tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang phải mời người chứng kiến việc lập biên bản, người này phải có đủ năng lực hành vi, phải có trình độ văn hóa nhất định. Cử người phiên dịch có trình độ hiểu biết, thành thạo tiếng nói dân tộc hoặc người nước ngoài, trong trường hợp không có người phiên dịch tiếng nước ngoài thì có thể mời người phiên dịch là người cùng dân tộc có sự tương đồng về ngôn ngữ với người nước ngoài, ví dụ người Mông, người xá, người Thái… với điều kiện nói nghe, hiểu được tiếng của nhau.

Biên bản phải ghi rõ giờ, ngày, tháng, năm, địa điểm bắt, nơi lập biên bản, thành phần tham gia bắt, thành phần tham gia lập biên bản bắt người phạm tội quả tang; những việc đã làm, tình hình, diễn biến trong khi thi hành việc bắt, tài liệu, đồ vật bị tạm giữ, tình trạng sức khỏe và ý kiến, khiếu nại của người bị bắt, thời gian kết thúc việc lập biên bản.

Thứ hai: Biên bản bắt người phạm tội quả tang phải được đọc cho người bị bắt và người chứng kiến nghe. Người bị bắt người thi hành việc bắt và người chứng kiến cùng nhau ký tên vào biên bản, nếu ai có ý kiến khác hoặc không đồng ý với nội dung biên bản thì có quyền ghi vào biên bản và ký tên. Những điểm sửa chữa, thêm bớt, tẩy xóa trong biên bản phải được xác nhận bằng chữ ký của họ. Trường hợp người bị bắt quả tang không ký vào biên bản thì người lập biên bản ghi rõ lý do và mời người chứng kiến ký vào biên bản.

Trường hợp người bị bắt, không biết tiếng phổ thông thì phải cử người phiên dịch tiếng phổ thông ra tiếng cho họ. Trường hợp người bị bắt không biết chữ thì người lập biên bản đọc biên bản cho họ nghe với sự có mặt của người chứng kiến. Biên bản phải có điểm chỉ của người bị bắt và chữ ký của người chứng kiến.

Trường hợp người bị bắt có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc vì lý do khác mà không thể ký vào biên bản thì người lập biên bản đọc cho họ nghe với sự chứng kiến và những người tham gia khác. Biên bản phải có chữ ký của người chứng kiến.

Mẫu biên bản bắt người phạm tội quả tang theo pháp luật hiện hành

Căn cứ theo thông tư 61/2017/TT-BCA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

BIÊN BẢN BẮT NGƯỜI PHẠM TỘI QUẢ TANG

 

Hồi ……  giờ …  ngày …  tháng … năm …  tại …… 

Chúng tôi gồm:

Ông/bà: …………………… Chức vụ ………………… 

…………………………………………………………… 

Ông/bà: ………………………………………………… 

Ông/bà: ………………………………………………… 

Ông/bà: ………………………………………………… 

Căn cứ Điều 111, Điều 133 Bộ luật Tố tụng hình sự, tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với(1):

Họ tên: ………………………      Giới tính:………….

Tên gọi khác: …………………………………………… 

Sinh ngày ……  tháng …… năm …  tại:……………… 

Quốc tịch: ……………  ; Dân tộc: …  ; Tôn giáo :…… 

Nghề nghiệp: …………………………………………… 

Số CMND/Thẻ CCCD/Hộ chiếu :……………………… 

cấp ngày………… tháng …  năm … . Nơi cấp: …… 

Nơi cư trú: ……………………………………………… 

Tóm tắt nội dung sự việc, hành vi phạm tội quả tang và diễn biến quá trình bắt như sau(2):

……………………………………………………………… 

……………………………………………………………… 

……………………………………………………………… 

Lời khai của người phạm tội (Chú ý ghi số điện thoại mà họ đã sử dụng trước khi bị bắt quả tang):

……………………………………………………………… 

……………………………………………………………… 

……………………………………………………………… 

Lời khai của người bị hại (Chú ý ghi số điện thoại để liên hệ khi cần thiết):

……………………………………………………………… 

……………………………………………………………… 

……………………………………………………………… 

Lời khai của người làm chứng/người chứng kiến (Chú ý ghi số điện thoại để liên hệ khi cần thiết):

……………………………………………………………… 

……………………………………………………………… 

……………………………………………………………… 

Tài liệu, đồ vật thu giữ, tạm giữ (nếu có):

……………………………………………………………… 

……………………………………………………………… 

……………………………………………………………… 

Thái độ chấp hành của người bị bắt:

……………………………………………………………… 

……………………………………………………………… 

……………………………………………………………… 

Tình trạng sức khỏe người bị bắt(3):

……………………………………………………………… 

……………………………………………………………… 

……………………………………………………………… 

Việc bắt người phạm tội quả tang kết thúc vào hồi ………. giờ …  ngày …….. tháng …… năm…….

Biên bản này đã đọc cho những người có tên trên nghe, công nhận đúng và cùng ký tên xác nhận dưới đây.

 

NGƯỜI BỊ BẮT

 

NGƯỜI LẬP BIÊN BẢN

NGƯỜI BỊ HẠI

(Nếu có)

 

NGƯỜI LÀM CHỨNG

 

NGƯỜI CHỨNG KIẾN

 

 

4. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của quy định bắt người phạm tội quả tang

Lý luận cũng như thực tiễn áp dụng và thực hiện biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự vẫn còn có những chế định chưa được quy định cụ thể và thống nhất nên quá trình áp dụng vẫn còn có những vướng mắc, khó khăn. Mặt khác, việc áp dụng biện phát ngăn chặn đôi khi còn mang tính áp đặt nên vẫn còn xảy ra những vi phạm tồn tại. Do đó, để hạn chế và khắc phục những vi phạm tồn tại nêu trên, từ góc độ của người làm công tác kiểm sát, rút ra bài học và đề xuất một số giải pháp khắc phục để cùng trao đổi nhằm nâng cao chất lượng công tác điều tra cũng như kiểm sát điều tra các vụ án hình sự, như sau:

- Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực:

Chất lượng con người là yếu tố cốt lõi nhất để giải quyết mọi vấn đề. Hiện nay chất lượng Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán ngày càng được nâng cao nhưng bên cạnh đó, một số cán bộ vẫn còn hạn chế về năng lực chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ. Do đó, việc chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng con người cần phải được quan tâm hơn nữa trong thời gian tới bằng việc tổ chức nhiều lớp tập huấn nghiệp vụ trong ngành, đồng thời nâng cao công tác tự đào tạo, đào tạo tại chỗ. Bên cạnh đó, Kiểm sát viên, cán bộ cần nâng cao ý thức tự học, tự rèn luyện, nghiên cứu các văn bản pháp luật.

- Tăng cường công tác kiểm sát trong kiểm sát áp dụng biện pháp ngăn chặn:

Kiểm sát viên, Kiểm tra viên làm công tác kiểm sát điều tra cần nắm vững quy định của BLTTHS quy định về các biện pháp ngăn chặn; nắm chắc chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân cũng như nhiệm vụ, quyền hạn của các Cơ quan tiến hành tố tụng khác. Hơn nữa, quá trình thực hiện áp dụng, phê chuẩn áp dụng biện pháp ngăn chặn, Lãnh đạo, Kiểm sát viên phải nghiên cứu thật kỹ hồ sơ đề nghị của CQĐT, kiên quyết không phê chuẩn những trường hợp chưa đủ các điều kiện áp dụng biện pháp ngăn chặn. Đồng thời, phải gắn chặt công tố với hoạt động điều tra, bám sát hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra để chủ động nắm chắc hồ sơ vụ án. Đặc biệt là đối với các trường hợp bắt người thì Kiểm sát viên cần tiếp cận ngay để hỏi và ghi lời khai người bị bắt, nhằm có sự đánh giá, phân loại ngay từ đầu để có quyết định chính xác xem việc bắt người có đúng không, có cần thiết phải áp dụng biện pháp ngăn chặn và áp dụng biện pháp nào cho phù hợp với pháp luật. Để có sự tiếp cận ngay từ đầu của Kiểm sát viên, thì giữa Viện kiểm sát và CQĐT phải có sự phối kết hợp chặt chẽ trên cơ sở các Quy chế phối hợp đã được ký kết, chính vì vậy tăng cường quan hệ phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng cũng là một giải pháp nhằm hạn chế những tồn tại trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn.

Luật Minh Khuê (tổng hợp & phân tích)