1. Bệnh truyền nhiễm là gì?

Bệnh truyền nhiễm là loại bệnh nhiễm trùng có khả năng lây lan từ người này sang người khác một cách trực tiếp hoặc gián tiếp qua môi trường trung gian (như thức ăn, đường hô hấp, dùng chung đồ dùng, máu, da, niêm mạc...) và có khả năng phát triển thành bệnh dịch.

Cơ thể con người là nơi tập hợp rất nhiều sinh vật sống bên trong và cả bên trên bề mặt da, tóc, lông. Chúng thường vô hại hoặc thậm chí còn có một số lợi ích cho sức khỏe. Tuy nhiên, trong những điều kiện nhất định, một số sinh vật có thể gây bệnh.

Bên cạnh những bệnh truyền nhiễm có khả năng truyền từ người sang người, vẫn có bệnh có thể truyền từ côn trùng hoặc từ động vật khác sang. Trong một số trường hợp, tiêu thụ thực phẩm hoặc nước bị ô nhiễm, tiếp xúc với các sinh vật trong môi trường cũng có thể gây ra bệnh truyền nhiễm.

Các dấu hiệu và triệu chứng sẽ khác nhau tùy thuộc vào sinh vật gây nhiễm trùng. Tuy nhiên, bệnh thường bao gồm sốt và mệt mỏi. Nhiễm trùng nhẹ có thể đáp ứng với nghỉ ngơi và các biện pháp khắc phục tại nhà, nhưng nếu mức độ nặng đe dọa tính mạng thì người bệnh cần nhập viện.

Nhiều bệnh truyền nhiễm như bệnh sởi và thủy đậu có thể được ngăn ngừa bằng vắc-xin. Rửa tay thường xuyên và kỹ lưỡng cũng giúp bảo vệ khỏi hầu hết các bệnh truyền nhiễm.

Tuy nhiên, khi đã mắc các bệnh truyền nhiễm, cơ thể người bệnh sẽ có đáp ứng miễn dịch dịch thể và đáp ứng miễn dịch qua trung gian tế bào. Đó được gọi là quá trình tạo thành miễn dịch. Tùy theo loại bệnh và cơ thể người mà miễn dịch được hình thành với mức độ, thời gian tồn tại miễn dịch bảo vệ khác nhau. Bệnh truyền nhiễm được phân loại theo đường lây và chia ra 5 nhóm bệnh. Cụ thể:

-  Bệnh truyền nhiễm lây theo đường máu

- Bệnh truyền nhiễm lây theo đường da và niêm mạc

- Bệnh truyền nhiễm lây theo đường tiêu hoá

- Bệnh truyền nhiễm lây theo đường hô hấp

- Bệnh truyền nhiễm có thể lây bằng nhiều đường

Gồm nhiều loại bệnh khác nhau nên hậu quả cũng khác nhau. Có những căn bệnh rất nặng nề và để lại hậu quả khủng khiếp có thể trên phạm vi cộng đồng hoặc cá thể.

Trong lịch sử, đã có nhiều trận đại dịch cướp đi một con số khổng lồ các sinh mạng: Dịch hạch, cúm, đậu mùa, tả,… Do việc kiểm soát không tốt. Ở góc độ từng cá nhân, có thể mắc bệnh rồi sẽ tự khỏi hoặc dưới sự hỗ trợ của y học hiện đại như thủy đậu, cúm,… Tuy nhiên, một số bệnh như Viêm Não Nhật Bản, Viêm màng não, dại, đều mang lại hậu quả tối tăm hơn cho người bệnh.

Gọi là bệnh lây nhiễm, nên cộng đồng, khu vực dịch tễ cần phải được phòng ngừa và ngăn chặn. Ví dụ ở Việt Nam, chúng ta có chiến dịch tiêm ngừa lao, có phổ biến chủng ngừa viêm gan siêu vi B, Sởi, bại liệt, bạch cầu, ho gà...

2. Các bệnh truyền nhiễm thường gặp

2.1. Bệnh sốt xuất huyết

Sốt xuất huyết là bệnh truyền nhiễm do siêu vi Dengue gây ra. Siêu vi Dengue xâm nhập vào cơ thể người thông qua vết muỗi vằn đốt từ những muỗi cái mang mầm bệnh. Đây là bệnh nguy hiểm cho cả trẻ em và người lớn vì bệnh chưa có vắc xin phòng ngừa, chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, sau khi khỏi bệnh, trẻ vẫn có thể bị mắc lại, bệnh có thể gây chảy máu nghiêm trọng, tụt huyết áp đột ngột dẫn đến tử vong và nguy cơ cao bùng dịch.

Đây là một trong những bệnh lý phổ biến và hàng năm đều có mắc mới với số lượng đáng kể. Bệnh không có vắc xin phòng ngừa và luôn luôn “nổi lên” vào các mùa mưa trong năm.

Sốt xuất huyết mức độ thay đổi, có thể nhẹ chỉ cần bổ sung nước và nâng đỡ. Nhưng có những trường hợp bệnh có thể diễn tiến rất nặng, bất ngờ và dẫn tới mất dịch, mất máu, tổn thương cơ quan, bệnh nhân có thể sốc và tử vong trong sự bất lực của thầy thuốc. Do đó, cần nhận diện sớm và can thiệp ngay khi cần để bảo vệ sức khoẻ cho người bệnh.

2.2. Bệnh tay chân miệng

Tay chân miệng là một bệnh truyền nhiễm do siêu vi trùng đường ruột gây ra. Tay chân miệng thường gặp ở trẻ dưới 5 tuổi, nhất là trẻ dưới 3 tuổi. Một số dấu hiệu và triệu chứng tay chân miệng ở trẻ em sau đây: Sốt, đau họng, tổn thương loét đỏ và đau ở miệng, sẩn hồng ban không ngứa, ở một số nơi như lòng bàn tay, lòng bàn chân, mông đôi khi có bóng nước, trẻ thường quấy khóc, bỏ bú và biếng ăn…

Đây cũng là một trong hai bệnh lý sốt cho siêu vi cần đặc biệt lưu ý ở trẻ em. Bệnh còn lại là sốt xuất huyết. Tay chân miệng đa phần thì ít nguy hiểm khi được phát hiện và điều trị kịp thời. Nhưng nếu Tay chân miệng mức độ nặng thì hệ thần kinh sẽ bị tổn thương và trẻ có thể nguy kịch. Do đó, khi trẻ sốt và xuất hiện đau họng, tăng tiết nước bọt, loét miệng, tay chân nổi ban đỏ thì cần lưu ý đi khám ngay nhé.

2.3. Bệnh cúm

Cúm là một bệnh nhiễm trùng đường hô hấp (mũi, họng và phổi) gây ra bởi virus cúm, bệnh dễ lây lan từ người này sang người khác. Các triệu chứng của bệnh cúm ở trẻ bao gồm sốt cao trên 37.8 độ C, ho, đau cổ họng, chảy nước mũi hoặc nghẹt mũi, đau nhức cả người, nhức đầu, và cảm thấy rất mệt, một số người có thể ói mửa hoặc tiêu chảy.  

- Khi trẻ có các dấu hiệu và triệu chứng bệnh, phụ huynh cần để trẻ ở nhà

- Che miệng khi ho và hắt hơi;

- Nên rửa tay thường với xà bông và nước hoặc xoa tay với các loại nước cồn (alcohol);

- Không để trẻ dùng chung vật dụng cá nhân với người khác;

- Vắc xin cúm được chứng mình an toàn, hiệu quả và đã được sử dụng hơn 60 năm qua. Vắc xin cúm có thể tiêm cho trẻ từ 6 tháng tuổi đến 9 tuổi chưa từng tiêm vắc xin cúm cần tiêm 2 mũi cách nhau tối thiểu 1 tháng. Sau đó tiêm nhắc lại 1 mũi hằng năm. Trẻ trên 9 tuổi và người lớn tiêm 1 mũi và cần tiêm nhắc vắc xin cúm hàng năm để phòng bệnh cúm mùa. 

2.4. Bệnh thủy đậu

Thủy đậu là bệnh truyền nhiễm phổ biến do virus Varicella Zoster gây ra. Đường lây chủ yếu bằng đường hô hấp qua những giọt nước bọt bắn ra từ bóng nước hoặc từ đường hô hấp của người bệnh, hiếm khi lây do tiếp xúc trực tiếp với bóng nước. Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi nếu chưa bị bệnh thủy đậu hoặc chưa được chích ngừa thủy đậu (chưa được miễn dịch với bệnh thủy đậu), tuy nhiên trẻ em là đối tượng dễ bị bệnh tấn công.

- Tiêm phòng thủy đậu ở trẻ em để ngăn ngừa bệnh. Vắc xin thủy đậu có tác dụng rất tốt trong việc phòng bệnh

- Khi trẻ có dấu hiệu và triệu chứng bệnh, phụ huynh nên để trẻ ở nhà, không cho trẻ đi học và đến chỗ đông người để tránh lây nhiễm cho trẻ khác và người chưa có miễn dịch.

- Cách ly trẻ với người xung quanh chưa có miễn dịch trong gia đình để hạn chế lây nhiễm.

- Không để trẻ dùng chung vật dụng cá nhân với người khác.

2.5. Bệnh sởi

Sởi là một bệnh truyền nhiễm do siêu vi Paramyxoviridae gây ra. Bệnh lây qua đường hô hấp và là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở trẻ em. Đây là bệnh thường gặp ở trẻ dưới 5 tuổi, đỉnh dịch thường vào mùa đông xuân với các triệu chứng: sốt cao; phát ban đầu tiên ở sau tai, lan ra mặt, xuống thân và tay chân kèm ho nhiều, chảy nước mũi, đỏ mắt.

- Chích ngừa bệnh sởi ở trẻ em là biện pháp phòng ngừa bệnh hữu hiệu cho trẻ và hạn chế bệnh lây lan gây ra dịch trong cộng đồng.

- Sởi là bệnh có khả năng lây lan cao từ người sang người vì vậy cần đề cao việc phòng ngừa và hạn chế lây lan. Trẻ có dấu hiệu mắc sởi phụ huynh cần cho bé nghỉ học và đưa trẻ đến các trung tâm y tế để được thăm khám.

- Giữ vệ sinh không gian sống, vệ sinh cá nhân, nên để phòng sạch, thoáng khí.

- Trẻ mắc sởi cần được chăm sóc và điều trị theo chỉ dẫn của bác sĩ, ở phòng đủ sáng, thoáng cho trẻ nghỉ ngơi đầy đủ, vệ sinh cá nhân sạch sẽ.

- Thông thường, trẻ bị bệnh sởi sẽ chán ăn, bỏ ăn vì vậy bố mẹ cần chuẩn bị cho trẻ những đồ ăn lỏng, dễ nuốt và dễ tiêu, kết hợp các nhóm chất để bổ sung cho trẻ.

- Nhỏ mũi, mắt bằng dung dịch nước muối sinh lý (NaCl 0,9%) hoặc dung dịch nhỏ mắt mũi 3-4 lần/ngày.

- Cho trẻ uống đủ nước, có thể bổ sung nước hoa quả, hay oresol.

- Với trẻ có dấu hiệu bệnh tăng nặng như mệt mỏi, ngủ li bì, khó thở, ban lặn nhưng vẫn còn sốt, phụ huynh cần đưa bé đến ngay cơ sở y tế gần nhất để kịp thời điều trị.

Trên đây là toàn bộ nội dung tư vấn của Luật Minh Khuê về vấn đề này. Nếu có bất kỳ vướng mắc nào xin vui lòng liên hệ tới Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến qua số điện thoại 1900.6162 để được hỗ trợ. Xin trân trọng cảm ơn!