1. Bị lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản giải quyết thế nào ?

THưa luật sư, xin hỏi: Anh chị cho em hỏi là lợi dụng lòng tin chiếm đoạt 500.000VND. Như vậy mình có làm đơn tố được không ạ? Em xin lời khuyên từ bên anh chị ạ ?
Em cảm ơn

Luật sư tư vấn.

Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi 2017 quy định:

Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào thực hiện một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại hoặc tài sản có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

Trường hợp của bạn giá trị tài sản không đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự.

Nếu người chiếm đoạt tiền của bạn gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà vi phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Trong trường hợp này của bạn có thể khởi kiện vụ án dân sự về hành vi của người đó.

>> Xem thêm:  Giả mạo chữ ký để thừa kế tài sản giải quyết như thế nào ? Cách chia tài sản thừa kế hợp pháp ?

2. Tố giác tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản ?

Kính gởi cty luật minh khuê. Giúp gia đình chúng tôi giải đáp vướng mắc như sau:chị gái tôi có quan hệ như vợ chồng với một người nhưng không có giấy chứng nhận kết hôn, kết quả có 1 đứa con. Nay cháu bé đã được 14 tháng. Trong quá trình chung sống hợp tác làm ăn gì giữa 2 vợ chồng có phát sinh ra mâu thuẫn, đổ bể nợ nần.

Anh ta thường xuyên bạo hành chị em về thể xác và tinh thần chị em ít khi về kể với gia đình qua cuộc trao đổi của con riêng của chồng thì gia đình có biết chị bị bạo hành. Gia đình có khuyên chỉ nên có cuộc sống độc lập. Nhưng vì thương con chị đã cố gắng nhẫn nhịn. Tôi không rõ chị tôi có lẽ đã tìm hiểu không kỹ càng khi đến với anh ta. Vì mang bầu trước hôn nhân nên chị tôi đã làm 1 buổi lễ ra mắt bên nhà gái. Bên nhà trai không hề có ai ngoài chú rể chị tôi phải thuê người đứng giả để tránh điều tiếng. Sự việc leo thang đến khi chị bế con ra khỏi nhà để thuê nhà trọ 2 mẹ con cùng ở vì không chịu nổi cảnh bạo hành. Anh ta nói chị em gây nợ nần và thường xuyên có hành vi bạo hành về thể xác vàtinh thần. Đồng thời chị tôi đã đang ký giấy khai sinh cho bé mà không có sự nhận cha, quyết định làm mẹ đơn thân. Đang cố gắng thoát ly cảnh bạo hành. Chị đã thuê phòng trọ ra riêng tại đường Thành Thái quận 10. Ngày 18/10 anh ta có liên hệ xin gặp thăm con và ngủ lại. Sáng hôm sau ngày 19/10 ta ta hứa chở chị em và cháu đến trường và ghé nhà bà ngoại. Trong lúc chị em khoá cửa thì anh ta nhanh chóng bấm tháng xuống lầu và ôm cháu bé đi mất. Tắt máy không lên lạc được suốt 3 ngày. Chị tôi đã trình báo ca phường 14 quận 10 báo mất con, công an không tiếp nhận, chị tôi phải ngồi suốt mấy tiếng đồng hồ mới thấy có cán bộ bảo người trực ban tiếp nhận hồ sơ trình báo mất con của chị em.

Họ nói chuyển qua cho tư pháp xử lý, nói gia đình phải chủ động tự tìm tông tích đứa trẻ. Đến ngày 21/10 anh ta có chủ động liên lạc với gia đình tôi nói chị tôi phải khắc phục nợ nần trao trả một số tiền nào đó cho anh ta, còn đứa trẻ anh ta đã gởi người khác chăm sóc có báo công an anh ta cũng sẽ không khai đứa bé đang ở đâu, cùng lắm sẽ cùng chết với chị của tôi. Thấy tình huống có chiều hướng tiêu cực và nguy hiểm tôi gọi điện thông báo tình hình cho chị tôi. 22/10 chị tôi đã cung cấp tình tiết mới cho phía công an nhờ họ tích cực điều tra. Trưa ngày 22/10 chị tôi nhận được tin anh ta xuất hiện tại quận 11, đã nhờ sự hỗ trợ của công an phường 2 quận 11 tạm giựa để liên lạc với công an phường14 quận 10. Anh ta tung chạy và chống cự nhưng bất thành. Nói tui bồng con đi công viên mới sáng nay bắt cóc gì mà bắt cóc, nói chị em bị điên. Sau đó tiếp tục uy hiếp chị em trả nợ và hồ sơ cho anh ta anh ta sẽ trao trả con. Công an phường 14 quận 10 sang tiếp nhận và đưa vế quận 10 xử lý. Vì anh ta có thế lực bên cho vay cầm cố và có mối quan hệ rộng với các công chứng , xã hội đen lẫn công an, lại chung chi móc nối nên đẩy chị em vào tình huống bất lợi vẫn chưa gặp được con. *công an đã ra biên bản thông báo địa chỉ đứa bé đang được giữ bởi 1 người phụ nữ xưng là dì của anh ta. Rồi bảo 2 bên tự thoả thuận hoặc khởi kiện đề giành quyền nuôi con con. Công an không có trách nhiệm bàn giao bé về cho mẹ hay bất kỳ ai khác*.

Trong trường hợp này chị tôi và gia đình chúng tôi nghi ngờ dấu hiệu gì khuất tất ở đây sự chung chi móc nối. Người phụ nữ kia có tư cách pháp lý gì để giữ đứa bé. Trong khi anh ta cũng không có giấy tờ gì chứng minh là cha của đứa bé. *tâm trí chị em giờ rất hoảng loạn công an hùa theo anh ta nói chị tôi không thật và xử lý theo hướng có lợi cho anh ta. Họ nói chị em chiếm đoạt tàisản của anh ta, không làm tròn trách nhiệm làm mẹ nên anh ta được nước lớngiọng chưởi mắng xúc phạm tới chị tôi nhưng chị tôi giờ không còn sức clực để phản kháng tinh thần suy sụp vì mất con, nên nói gì mắng chưởi gì vu cáo gì chị cũng nhận đê năn nỉ anh ta đem con về hay đưa chị tôi đi gặp con. Chị em đã cùng lên xe với anh ta, gia đình chúng tôi mất dấu không theo anh ta được, tình huống xấu nhất tôi lo sợ xảy ra nguy hiểm tính mạng cho chịem, giờ em rất hoang mang. Chị em tôi rời khỏi công an phường 14 tầm hơn 0 giờ ngày 23/10.

Hiện giờ tôi và gia đình không biết tình trạng chị tôi thế nào tôi gọi các đường dây nóng và tư vấn tổng đài cũng không ai tiếp nhận hay giải đáp cho chúng tôi sáng mai nếu chúng tôi liên lạc được với chị tôi bình an thì quá tốt và gia đình chúng tôi sẽ phải làm điều gì trình báo cơ quan nào để hỗ trợ đưa bé về với mẹ. Còn trường hợp chị tôi bấn loạn làm điều gì nguy hiểm đến tính mạng trách nhiệm này sẽ thuộc về ai, gia đình chúng tôi phải trình báo và liên hệ cơ quan nào để có giải quyết thoả đáng đây. Hoàn cảnh nhân thân gia đình anh ta:

- Đã phát hiện anh ta có 3 đời vợ trước; những đứa con riêng của anh ta: 1 người con trai lớn nghiện chích hút và buôn bán xì ke, hiện đang bị lưugiữ trong trại ( mẹ đang sinh sống tại Vũng Tàu )1 bé gái vừa học xong lớp 121 bé gái 13 tuổi ( bé này được thuê vú chăm sóc từ lúc 6 tháng tuổi - mẹ đã ra ngước ngoài sinh sống )

Vấn đề 1 : ca phường 14 quận 10 ra biên bản trả lời chị tôi vậy có thoả đáng chưa, nếu chúng tôi cần làm rõ và khiếu kiện phải liên hệ ở đâu. - người phụ nữ có được xác minh như thế nào khi nhận là dì của anh ta- anh ta hoàn toàn không có giấy tờ chứng minh là cha đừa bé- tại sao công an không hỗ trợ đưa bé về với mẹ. Vai trò của người phụ nữ đang giữ đứa bé là gì ở đây. 2.

Vấn đề thứ 2: con dưới 30 tháng sẽ do mẹ trực tiếp nuôi dưỡng. Nhưng tình huống này chúng tôi phải làm thế nào để đưa bé về với mẹ. Các trình tự chúng tôi phải tiến hành và thu thập những thông tin gì.

Kính mong luật Minh Khuê hồi đáp giúp chúng tôi có thể tin tưởng uỷ thác làm đại diện cho gia đình chúng tôi trong vụ việc nàychân thành cảm ơn.

- Trần Thị Công Nguyễn

Tố giác tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản đối với Người chung sống như vợ chồng

Luật sư tư vấn xử lý hành vi bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, gọi ngay: 1900.6162

Trả lời:

Trước hết, giữa chị gái của bạn và người chung sống như vợ chồng với chị gái của bạn không có quan hệ hôn nhân, tức là không phải là vợ chồng hợp pháp theo pháp lý.

Chị gái của bạn của bạn có một đứa con 14 tháng tuổi do chị bạn nuôi dưỡng và đăng ký khai sinh mà không có cha của đứa trẻ. Do vậy, theo quy định của pháp luật Người chung sống như vợ chồng với chị của bạn không có quan hệ cha con đối với đứa bé.

Do đó, sự việc này sẽ không phải là đối tượng điều chỉnh của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Dựa trên những tình tiết mà bạn cung cấp, hành vi của Người chung sống như vợ chồng với chị bạn có dấu hiệu hình sự và chịu sự điều chỉnh của Bộ luật hình sự năm 2015 (Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2017).

Căn cứ vào tình tiết thực tế: Anh ta đã nói dối chị bạn và đưa đứa trẻ đi mà không có sự đồng ý của mẹ hay người thân thích của đứa tẻ (ví dụ như ông, bà, cô, dì...) Đến ngày 21/10 anh ta có chủ động liên lạc với chị gái bạn và có lời nói đe dọa, bắt chị gái bạn phải trao trả một số tiền nào đó cho anh ta, nếu không cùng lắm sẽ cùng chết với chị gái bạn.

Căn cứ quy định của pháp luật: Hành vi của anh ta đã cấu thành tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản. Cụ thể Điều 169 BLHS năm 2015 quy định Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản

“1. Người nào bắt cóc người khác làm con tin nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:......

d) Đối với người dưới 16 tuổi;”

Trách nhiệm của công an nhân dân, cơ quan điều tra khi nhận tin tố giác tôi phạm.

Căn cứ theo quy định của BLTTHS: Sự việc xảy ra trên địa bàn Phường 14 Quận 10 nên Công an phường 14 quận 10 có trách nhiệm tiếp nhận tin tố giác, tin báo về tội phạm, lập biên bản tiếp nhận, tiến hành kiểm tra, xác minh sơ bộ và chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm kèm theo tài liệu, đồ vật có liên quan cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền (cụ thể ở đây là Cơ quan điều tra của Quận 10). Trường hợp khẩn cấp thì báo tin trực tiếp qua điện thoại. Công an điều tra tội phạm Quận 10 tiếp nhận điều tra và ra quyết định khởi tố vụ án hình sự.

Căn cứ vào tình tiết thực tế: Việc công an phường không tiếp nhận ngay tin tố giác tội phạm của chị gái bạn là không đúng theo quy định của BLTTHS năm 2015. Cụ thể là Điều 146 quy định về Thủ tục tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Công an phường 14 quận 10 phải chịu trách nhiệm đối với hành vi chậm trễ và không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình.

Sau khi tiếp nhận, Cơ quan điều tra phải ra quyết định khởi tố vụ án hình sự theo Điều 143 BLTTHS năm 2015 quy định Căn cứ khởi tố vụ án hình sự:

“Chỉ được khởi tố vụ án khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những căn cứ:

1. Tố giác của cá nhân;

2. Tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân;

3. Tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng;

4. Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước;

5. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm;

6. Người phạm tội tự thú”.

Trong khi đó Công an chỉ ra biên bản thông báo địa chỉ đứa bé và nói hai bên tự thoả thuận hoặc khởi kiện đề giành quyền nuôi con con, Công an không có trách nhiệm bàn giao bé về cho mẹ hay bất kỳ ai khác là không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình. Như vậy, Công an phường 14 quận 10 chưa làm tròn nghĩa vụ của mình.

Tố giác tội phạm:

Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị gái bạn và đứa bé bạn, bạn hoặc chị gái bạn tố giác hành vi của anh ta đến Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát nơi sự việc xảy ra.

BLTTHS năm 2015 Điều 144 Tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố: Bạn có thể tố giác hành vi của Anh ta tại Cơ quan điều tra quận 14 hoặc Viện kiểm sát quận. Bạn có thể chọn hình thức tố giác bằng văn bản hoặc bằng lời nói. Thông tin tố giác phải chính xác và đúng sự thật, người tố giác phải chịu hoàn toàn trách nhiệm nếu việc tố giác sai sự thật. Có thể bị xử lý kỷ luật, phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự tùy vào mức độ vi phạm.

>> Xem thêm:  Thế nào là tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản ? Hình phạt hành vi chiếm đoạt tài sản

3. Tư vấn về tội lạm dụng chức vụ chiếm đoạt tài sản ?

Kính chào Luật Minh Khuê, tôi có một số thắc mắc xin được tư vấn như sau: Ông Nguyễn Văn T là cán bộ phụ trách một trạm bơm nước ở nông trường Bắc Sơn huyện B, được nông trường giao cho 3 sào ruộng để tập thể nhân viên cấy lúa cải thiện, T thuê chị K là người xã gần đó thu hoạch cho tập thể trạm.

Ở liền khu vực đó, nông trường còn có 4 sào lúa đã chín nhưng chưa gặt, T gọi bán luôn cho chị K hai triệu đồng, chị K đưa trước 1 triệu đồng, y đưa luôn cho tập thể 860 ngàn đồng để trả vào khoản tiền ăn của anh em mà y giữ và đã làm thiếu hụt. Sau khi thu hoạch xong tất cả (24 bao = 1.200kg) đang trên đường vận chuyển thì bị bảo vệ nông trường bắt giữ, chị K khai mua của T chứ không biết là lúa của Nông trường. Do địa bàn của nông trường rộng, tình trạng mất mát xảy ra nhiều nên địa phương quyết định đưa vụ này ra xử lý bằng pháp luật. Công an huyện B đã bắt T để điều tra xử lý trước pháp luật. Có ai phạm tôi trong vụ này không?

Định tội cho T như thế nào ? Tôi đang băn khoăn giữa Điều 173 "Tội trộm cắp tài sản" và Điều 355 "Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản"? Cơ sở pháp lý?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Tư vấn về tội lạm dụng chức vụ chiếm đoạt tài sản ?

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

Bộ Luật hình sự năm 2015 ; Luật sử đổi, bổ sung bộ luật hình sự 2017 quy định ở Điều 173:Tội trộm cắp tài sản

"Điều 173. Tội trộm cắp tài sản

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;

đ) Tài sản là di vật, cổ vật."

Điều 355: Tội Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản.

"Điều 355. Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản

1. Người nào lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 06 năm:

a) Đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục 1 Chương này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 năm đến 13 năm:

a) Có tổ chức;

b) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;

c) Phạm tội 02 lần trở lên;

d) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

đ) Gây thiệt hại về tài sản từ 1.000.000.000 đến dưới 3.000.000.000 đồng;

e) Chiếm đoạt tiền, tài sản dùng vào mục đích xóa đói, giảm nghèo; tiền, phụ cấp, trợ cấp, ưu đãi đối với người có công với cách mạng; các loại quỹ dự phòng hoặc các loại tiền, tài sản trợ cấp, quyên góp cho những vùng bị thiên tai, dịch bệnh hoặc các vùng kinh tế đặc biệt khó khăn.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 13 năm đến 20 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;

b) Gây thiệt hại về tài sản từ 3.000.000.000 đồng đến dưới 5.000.000.000 đồng;

c) Dẫn đến doanh nghiệp hoặc tổ chức khác bị phá sản hoặc ngừng hoạt động;

d) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên;

b) Gây thiệt hại về tài sản 5.000.000.000 đồng trở lên.

5. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm, có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản."

Dấu hiệu để phân biệt tội Trộm cắp tài sản và Tội Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản là hành vi khách quan của tội phạm.

Đối với tội trộm cắp tài sản, là người phạm tội thực hiện hành vi lén lút, chiếm đoạt tài sản đã có chủ. Dấu hiệu lén lút là người phạm tội thực hiện hành vi lén lút, che dấu chủ tài sản, che dấu hành vi đang thực hiện, có thể che dấu toàn bộ việc phạm tội hoặc chỉ che dấu tính chất phi pháp của hành vi.

Đối với tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản là hành vi vượt ra khỏi quyền hạn của mình nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác. Hành vi vượt quyền hạn này chỉ thực hiện trên cơ sở chức vụ, quyền hạn đã có của người phạm tội.Người phạm tội đã sử dụng chức vụ quyền hạn của mình như là phương tiện để thực hiện tội phạm.

Bên cạnh đó, khoản 2 Điều 3Luật phòng chống tham nhũng năm 2018 quy định:

“3. Người có chức vụ, quyền hạn bao gồm:

a) Cán bộ, công chức, viên chức;

b) Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn - kỹ thuật trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân;

c) Cán bộ lãnh đạo, quản lý trong doanh nghiệp của Nhà nước; cán bộ lãnh đạo, quản lý là người đại diện phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp;

d) Người được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó.”

Trong trường hợp nêu ở trên thì Nguyễn Văn T là cán bộ phụ trách một trạm bơm nước ở nông trường Bắc Sơn huyện B – là người có chức vụ quyền hạn. Và T thuê chị K thu hoạch cho tập thể trạm sau đó bán luôn cho chị Kỳ 4 sào lúa của nông trường. Ở đây, T không có dấu hiệu lén lút mà T đã thực hiện công khai việc bán cho chị K 4 sào lúa của nông trường trong khi đang làm nhiệm vụ thuêchị K thu hoạch cho tập thể trạm.

Như vậy, T sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 355 BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung 2017.

Ngoài ra, chị K có thể sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (Điều 323 BLHS) nếu như chị K hoàn toàn không biết về việc T lạm dụng chức vụ để bán số thóc đó cho chị K.

“Điều 323. Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

1. Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Ép buộc người khác ký giấy nợ bị xử lý như thế nào ? Thuê đòi nợ có vi phạm không ?

4. Tư vấn tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản ?

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề mong luật sư giải đáp: A - được phân công làm chuyên viên khách hàng Dịch vụ Chợ thuộc phòng giao dịch huyện của Ngân hàng Thương mại cổ phần.

Nhiệm vụ của A là phụ trách công tác thẩm định, đề xuất cho vay, thu nợ góp hàng ngày của các tiểu thương tại cá chợ trên địa bàn được phân công. theo quy định sau khi thu nợ góp hàng ngày A phải nộp vào Ngân quỹ của phòng giao dịch. Tuy nhiên, trong thời gian từ tháng 12/2010 đến t3/2011, A đã lợi dụng nhiệm vụ được phân đi thu tiền trả góp của các tiểu thương nhưng không đăng nộp đầy đủ vào ngân quỹ theo quy định mà chiếm đoạt với tổng số tiền là 405.843.500đ và sử dụng vào mục đích cá nhân.

tôi đang băn khoăn giữa tôi tham ô tài sản và tôi lợi dụng tín nhiêm chiếm đoạt tài sản.

Tôi xin chân thành cảm ơn và rất mong sự phản hồi từ các Quý Luật sư Công ty tư vấn Luật Minh Khuê

Tôi rất mong nhận được lời tư vấn vào địa chỉ email này. Kính thư!

Người gửi: Thanh Thảo

.Tư vấn tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản ?

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến,gọi: 1900.6162

Trả lời:

Để biết được anh A đã phạm tội gì? Thì trước hết bạn nên phân biệt dựa vào dấu hiệu nhận biết giữa hai tội “Tham ô tài sản” và “Lợi dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Căn cứ Bộ luật hình sự năm 2015:

Điều 353. Tội tham ô tài sản

1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục 1 Chương này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Có tổ chức;

b) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;

c) Phạm tội 02 lần trở lên;

d) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

đ) Chiếm đoạt tiền, tài sản dùng vào mục đích xóa đói, giảm nghèo; tiền, phụ cấp, trợ cấp, ưu đãi đối với người có công với cách mạng; các loại quỹ dự phòng hoặc các loại tiền, tài sản trợ cấp, quyên góp cho những vùng bị thiên tai, dịch bệnh hoặc các vùng kinh tế đặc biệt khó khăn;

e) Gây thiệt hại về tài sản từ 1.000.000.000 đến dưới 3.000.000.000 đồng;

g) Ảnh hưởng xấu đến đời sống của cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong cơ quan, tổ chức.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;

b) Gây thiệt hại về tài sản từ 3.000.000.000 đồng đến dưới 5.000.000.000 đồng;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Dẫn đến doanh nghiệp hoặc tổ chức khác bị phá sản hoặc ngừng hoạt động.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên;

b) Gây thiệt hại về tài sản 5.000.000.000 đồng trở lên.

5. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm, có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

6. Người có chức vụ, quyền hạn trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước mà tham ô tài sản, thì bị xử lý theo quy định tại Điều này.

Theo đó, Tham ô tài sản là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý trong những trường hợp luật định. Dấu hiệu của tội phạm này như sau: Người phạm tội đã lợi dụng chức vụ quyền hạn để chiếm đoạt tài sản do mình quản lí, tức chiếm giữ tài sản để sử dụng, định đoạt cho riêng mình làm mất đi một khối lượng tài sản nhất định của nhà nước hoặc cơ quan, tổ chức mà người đó quản lí.Chủ thể của tội phạm thuộc chủ thể đặc biệt là người có chức vụ, quyền hạn trong việc quản lí tài sản.

Đối với Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản quy định tại điều 175 BLHS 2015 :

Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

g) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm.

4. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Theo đó, Lạm dụng tín nhiệm tài sản là hành vi cố ý dịch chuyển một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành tài sản của mình hoặc cho người khác mà mình quan tâm bằng thủ đoạn lạm dụng tín nhiệm.Dấu hiệu của tội phạm này như sau: Người phạm tội có hành vi vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và kết quả là người phạm tội có quyền về tài sản một cách hợp pháp.Như vậy trước khi thực hiện hành vi chiếm đoạt người phạm tội đã có tài sản hợp pháp bằng một hợp đồng khác với các tội phạm khác, người phạm tội chỉ có thể có tài sản sau khi thực hiện hành vi chiếm đoạt.Sau khi có tài sản người phạm tội đã không thực hiên nghĩa vụ tài sản theo hợp đồng mà có ý chiếm đoạt tài sản đó bằng một trong các thủ đoạn: Gian dối; bỏ trốn; sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.Chủ thể của tội phạm này là người đủ năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS.

Do đó, dựa vào những dấu hiệu trên có thể thấy rằng A lợi dụng chức vụ chiếm đoạt với tổng số tiền là 405.843.500đ . Vậy A phạm tội tham ô tài sản theo điều 353 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung 2017.

Trân trọng cám ơn!

>> Xem thêm:  Cho vay tiền làm ăn có tiền nhưng không trả nên báo công an không ?

5. Hình phạt đối với hành vi lợi dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản ?

Xin chào luật sư Xin luật sư giải đáp giúp tôi nội dung sau đây: Năm 2017, bạn tôi giới thiệu là lo được việc vào trong ngành lực lượng vũ trang với những trường hợp không thi đỗ với giá 400 triệu đồng. Do tin tưởng là chỗ bạn bè gia đình tôi đã đồng ý lo vào ngành cho con tôi và đã đưa cho bạn tôi 400 triệu đồng nhưng không viết giấy tờ biên nhận.bạn tôi hứa đến cuối năm 2013 thì con tôi sẽ được đi học.

Đợi đến cuối 2017 vẫn không thấy lo được, tôi có gặp gỡ nhiều lần và trao đổi, thấy có biểu hiện nghi ngờ mình bị anh bạn kia lừa đảo. Đến cuối năm 2018 bạn tôi xuống nhà trả cho tôi 30 triệu đồng, tôi đã ghi âm cuộc đàm thoại này và bạn tôi hứa sẽ trả tôi sau, tiếp sau đó trao đổi qua điện thoại đòi tiền tôi đã ghi âm lại, tôi đã đòi nhiều lần bạn tôi có ý đồ trốn tránh không muốn gặp tôi. Đến cuối năm 2019 tôi đã gặp được trực tiếp bạn tôi để đòi tiền thì bạn tôi bảo tôi lấy căn cứ gì mà bảo bạn tôi cầm tiền của tôi. Sau đó tôi gửi đơn ra cơ quan cảnh sát điều tra nơi bạn tôi công tác, tôi đã cũng cấp băng ghi âm và bản dịch ghi âm, qua xác minh bản dịch và giám định giọng nói giữa tôi và bạn tôi đã có kết quả, kết luận của viện khoa học hình sự - Bộ Công An, băng ghi âm của tôi là đúng, không có cắt dán,ghép, giám định giọng nói là đúng với nội dung tôi đề nghị, tôi đã nhận được kết luận của thủ trưởng cơ quan cảnh sát điều tra là bạn tôi cầm tiền của tôi là ĐÚNG với nội dung tôi tố cáo, đến tháng 5/2020 giám đốc công an tỉnh đã có quyết định cho bạn tôi ra quân về địa phương và cơ quan cảnh sát điều tra hương dẫn tôi làm đơn gửi sang công an tỉnh để giải quyết tiếp theo, vì bạn tôi không còn hô khẩu thường trú tại cơ quan công tác.

Xin luật sư tư vấn trong trường hợp này cơ quan cảnh sát điều tra hướng dẫn tôi làm đơn sang công an tỉnh có đúng không? Việc này tôi nên gửi đơn ra tòa hay ra cơ quan cảnh sát điều tra? Nếu bạn tôi bị khởi tố thì bạn tôi có vi phạm tội lợi dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, hay tôi nhận hối lộ và đưa hối lộ. Có người nói tôi sẽ lien đới trách nhiệm đến tội đưa hối lộ có đúng không?

Xin chân thành cảm ơn Luật sư và mong luật giúp sớm có lời giải đáp giúp tôi !

Quy định về hình phạt đối với hành vi lợi dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và đưa hối lộ ?

Luật sư tư vấn hình sự về hình phạt hành vi chiếm đoạt tài sản, gọi: 1900.6162

Trả lời

Thứ nhất: Trong trường hợp này có thể xem loại tội phạm này là tội phạm rất nghiêm trọng ( Điều 9 BLHS 2015) khi áp dụng khung hình phạt quy định tại điểm a Khoản 3 Điều 355 Bộ Luật Hình sự 2015. Do vậy, căn cứ Thông tư 28/2014/TT-BCAThẩm quyền điều tra có thể sẽ thuộc thẩm quyền của phòng cảnh sát điều tra tội phạm về chức vụ của tỉnh theo quy định tại Điều 15 khi Thủ trưởng cơ quan cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh xét thấy cần trực tiếp điều tra.

Điều 15. Nhiệm vụ, quyền hạn của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật quản lý kinh tế và chức vụ trong hoạt động điều tra hình sự

1. Tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố. Trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan mình thì xây dựng kế hoạch giải quyết báo cáo Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh ra quyết định phân công giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; nếu không thuộc thẩm quyền giải quyết thì sau khi tiếp nhận chuyển ngay cho cơ quan, đơn vị điều tra có thẩm quyền kèm theo các tài liệu có liên quan (nếu có). Trong trường hợp cấp bách, cần ngăn chặn ngay hành vi phạm tội, thu thập tài liệu, chứng cứ, bảo vệ hiện trường thì phải có biện pháp giải quyết kịp thời theo quy định của pháp luật.

Định kỳ hàng tháng, báo cáo Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh (qua Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh) về công tác tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố.

...

Thứ hai: Đối với sự việc này thì bạn nên gửi đơn đến cơ quan cảnh sát điều tra để làm rõ sự việc, sau khi xác định có dấu hiệu phạm tội thì cơ quan cảnh sát điều tra sẽ ra quyết định khởi tố vụ án hình sự theo Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

Thứ ba: Căn cứ vào những tình tiết bạn đã nêu ở trên, hành vi trên không cấu thành tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 175 BLHS 2015 bởi loại tội phạm cấu thành dựa trên các dấu hiệu như sử dụng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn, chiếm đoạt tài sản của người khác đã giao cho mình trên cơ sở hợp đồng vay, mượn, thuê... hoặc sử dụng tài sản của người khác đã được giao cho mình trên cơ sở hợp đồng vay, mượn, thuê vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản. Các tình tiết như bạn nêu trên không phù hợp với các dấu hiệu nêu trên.

Các dấu hiệu trên có thể cấu thành tội Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 355 BLHS 2015 bởi, chủ thể trong trường hợp này là chủ thể đặc biệt - bạn của bạn làm việc trong nghành lực lượng vũ trang. Theo đó hành vi khách quan của tội phạm này là hành vi vượt ra khỏi phạm vi quyền hạn của mình chiếm đoạt tài sản của người khác. Hành vi vượt quyền này chỉ được thực hiện trên cơ sở chức vụ, quyền hạn đã có của người phạm tội. Trong trường hợp của bạn lạm dụng chức vụ, quyền hạn lừa dối người khác chiếm đoạt tài sản của họ là trường hợp người phạm tội thể hiện những nội dung không đúng sự thực với người khác nhưng vì tin vào người có chức vụ, quyền hạn mà họ không nhận thức ra được đó là gian dối và để cho người phạm tội chiếm đoạt tài sản.

Bạn có thể tham khảo thêm, đối với tội nhận hối lộ, là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn lợi dụng chức vụ, quyền hạn trực tiếp hoặc qua trung gian đã nhận hoặc sẽ nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác dưới bất kỳ hình thức nào có giá trị từ 2.000.000 đồng trở lên để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ.

Đối với tội đưa hối lộ, Tội đưa hối lộ là hành vi đưa tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác có giá trị từ 2.000.000 đồng trở lên hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc vi phạm nhiều lần cho người có chức vụ quyền hạn để người này làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ. Có thể được coi là người không phạm tội, người đưa hối lộ phải đồng thời thỏa mãn 2 điều kiện: bị ép buộc đưa hối lộ và chủ động khai báo trước khi bị phát giác. Trong trường hợp người đưa hối lộ tuy không bị ép buộc nhưng đã chủ động khai báo trước khi bị phát giác thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và được trả lại một phần hoặc toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ. Trường hợp người đưa hối lộ thành khẩn khai báo sau khi việc đưa hối lộ bị phát giác thì họ được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Do vậy, trong trường hợp của bạn Người bạn đó có thể cấu thành tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản. Còn bạn có thể không phạm tội đưa hối lộ khi thỏa mãn 2 điều kiện nêu trên.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Hành vi hủy hoại tài sản của người khác thì cấu thành tội gì ?