1. Tư vấn hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản?
Thưa luật sư, Tôi làm công nhân ở Quảng Ninh, Tôi có cho một người bạn tôi quê ở Thanh Hóa cùng làm với Tôi ở Quảng Ninh vay số tiền là 40 triệu đồng. Nhưng bạn tôi đã không làm ở đây nữa và bỏ về quê và không trả tiền cho Tôi.
Vậy tôi có thể làm đơn tố cáo người đó tội chiếm đoạt tài sản được không?
Trân trọng cảm ơn!
Người gửi: Tavanchu
>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự qua điện thoại gọi:1900.6162
Trả lời:
Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 có quy định chi tiết về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản chỉ cấu thành tội khi thủ đoạn gian dối xuất hiện ngay từ đầu, người phạm tội cố ý đưa ra thông tin không đúng sự thật nhằm làm cho người khác tin đó là sự thật nhằm chiếm đoạt tài sản. (Xuất hiện trước hành vi chiếm đoạt). Trường hợp của chị, do chị không nêu rõ bạn của chị vay tiền của chị sử dụng vào mục đích gì; có xác lập một hợp đồng vay mượn tài sản hay không?; mối quan hệ của hai người như thế nào?... Do đó, cần phải xem xét: việc bạn cùng nơi làm việc với chị vay tiền của chị nay không trả, nếu hành vi vay tiền ngay từ ban đầu đã có thủ đoạn gian dối (ví dụ như nói sai về mục đích vay…), và ngay sau khi nhận được tiền từ chị, bạn của chị dời khỏi nơi làm việc và chị không liên lạc được nữa… tổng hợp các hành vi đó cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 139 BLHS.
Trường hợp mà việc bạn chị vay tiền hoàn toàn ngay thẳng dựa trên hợp đồng (vay, mượn..) và sự tín nhiệm (quen biết..). Sau khi có được tài sản mới xuất hiện hành vi chiếm đoạt tài sản bằng các thủ đoạn bỏ trốn, đánh tráo, không có khả năng hoàn trả vì đã sử dụng vào mục đích bất hợp pháp…thì hành vi này cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Điều 140 BLHS.
Từ những điều đó, chị nên xem xét để biết hành vi của bạn chị vi phạm Điều 139 hay Điều 140 BLHS.
Ý kiến bổ sung:
Chào bạn! cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về chuyên mục hỏi đáp của công ty chúng tôi, thắc mắc của bạn, tôi xin được giải đáp như sau:
Theo quy định tại Điều 175 Bộ Luật hình sự năm 2015 về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” thì:
Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
1. Người nào thực hiện một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại hoặc tài sản có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;
b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.
…”
Theo quy định trên thì hành vi phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là hành vi vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó, hoặc sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản. Giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải có giá trị từ bốn triệu đồng trở lên thì mới phạm vào tội này, nếu dưới bốn triệu đồng thì phải hội đủ các điều kiện khác của điều luật như gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì mới phạm vào tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Như vậy bạn có thể làm đơn tố cáo người bạn đó với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Dựa trên những quy định trên, hy vọng rằng chúng tôi đã góp phần làm rõ những vướng mắc của bạn, cảm ơn bạn đã sử dụng dịch vụ của công ty Luật Minh Khuê. Trân trọng cảm ơn!
2. Khi nào thì được giảm nhẹ hình phạt?
Nhưng do vụ việc xảy ra tại quận Nam Từ Liêm nên được chuyển về thụ lý tại đây. Trước đó, gia đình em đã gửi lại cho bị hại số tiền 70 triệu đồng. Khoảng 20 ngày trước, công an quận Nam Từ Liêm có vào địa phương làm việc với anh của em. Đến 1 tuần trước, nhờ các mối quan hệ quen biết thì nhà em có biết được là công an đã ra quyết định khởi tố, hồ sơ đã được chuyển sang viện kiểm sát và trong vòng 7 đến 10 ngày sẽ vào địa phương đọc lệnh bắt. Luật sư cho em hỏi, là tại sao trong trường hợp này, gia đình em không được thông báo về quyết định khởi tố. Làm như vậy là có đúng trình tự điều tra xét xử hay chưa ?
Cho em hỏi thêm, nếu như có nhiều hơn 2 tình tiết giảm nhẹ, thì anh của em có được giảm án hay không, và mức án có thể nằm trong khoản nào, có thể được hưởng án treo hay không. Anh của em phạm tội lần đầu, thành khẩn khai báo, có ba là thương binh, ông nội là liệt sĩ. Cho em hỏi thêm là việc trả lại cho bị hại 70 triệu có được xem là hành vi khắc phục hậu quả hay không, có được tính là tình tiết giảm nhẹ không ?
Em xin cảm ơn luật sư nhiều ạ !
Luật sư trả lời:
Điều 179 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 quy định như sau:
"Điều 179. Khởi tố bị can......
5. Sau khi nhận được quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can hoặc quyết định khởi tố bị can của Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra phải giao ngay quyết định khởi tố bị can, quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can và giải thích quyền, nghĩa vụ cho bị can.
Sau khi nhận được quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, Cơ quan điều tra phải chụp ảnh, lập danh bản, chỉ bản của người bị khởi tố và đưa vào hồ sơ vụ án.
Việc giao, nhận các quyết định nêu trên được lập biên bản theo quy định tại Điều 133 của Bộ luật này."
Như vậy, theo quy định pháp luật nêu trên thì quyết định khởi tố sẽ được giao cho bị can - anh của bạn. Còn việc phải thông báo cho gia đình bạn thì pháp luật không bắt buộc quy định phải thông báo.
Nếu như anh của bạn có từ trên 2 tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì anh bạn sẽ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, cụ thể:
"Điều 54. Quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng
1. Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật này.
2. Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật đối với người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể.
3. Trong trường hợp có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều này nhưng điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất, thì Tòa án có thể quyết định chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án."
Theo thông tin dữ liệu bạn đưa ra thì "Anh của em phạm tội lần đầu, thành khẩn khai báo, có ba là thương binh, ông nội là liệt sĩ", đối chiếu theo quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì tình tiết giảm nhẹ phải là:
- Tình tiết thứ nhất: Anh bạn phải phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, việc anh bạn lừa đảo chiếm đoạt 330 triệu đồng theo quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì hành vi của anh bạn sẽ rơi vào khoản 3, khung hình phạt cao nhất là 15 năm - đây là tội phạm rất nghiêm trọng. Vậy nên đây không phải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho anh bạn.
- Tình tiết thứ hai: Thành khẩn khai báo
- Tình tiết thứ ba: Anh bạn phải là người có công với cách mạng hoặc là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ. Do đó, với thông tin bạn cung cấp ba bạn là thương binh, ông bạn là liệt sĩ thì tình tiết này cũng không phải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã được quy định.
Như vậy, từ những quy định pháp luật và phân tích nêu trên anh bạn rất khó để được cơ quan có thẩm quyền nhà nước quyết định một khung hình phạt thấp nhất.
Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.
3. Cách kiện người lừa đảo chiếm đoạt tài sản ?
Tháng 11 năm 2017 ông M là bố của bạn gái học cùng trung học với tôi giới thiệu có khả năng lo chạy cho tôi vào biên chế nganh giáo dục trong năm đó với điều kiện mất 120 triệu nhưng phải đặt cọc trước 40 triệu. Gia đình tôi đã chỉ lo trước 30 triệu đưa tay cho ông Miền. Cũng vì lòng tin ông Miền là công an nghỉ hưu của huyện HH và là người trong huyện nên không viết giấy biện nhận tiền. Ông Miền hứa nếu qua tết năm đó không lo được việc cho tôi sẽ hoàn trả đầy đủ số tiền 30 triệu đó. Qua tết năm đó ông M không lo được công việc tôi. Gia đình tôi đã nhiều lần yêu cầu ông M hoàn trả số tiền đặt cọc như đã hứa. Nhưng ông ta khất hết lần này đến lần khác biện đủ lý do không trả số tiền đó cho gia đình tôi.
Vậy tôi xin hỏi công ty tư vấn pháp luật là tôi muốn kiện ông miền với cơ quan pháp luật về hành vi trên thì có lấy lại được số tiền đã đặt cọc không? Vì không có giấy biên nhân thì tôi kiện ông ta có thành công không?
Nếu tôi ghi âm cuộc nói chuyện với ông M với nội dung ông ta đã nhận số tiền đặt cọc của gia đình tôi để lo việc cho tôi thì có là chứng cứ để kiện ông M ra pháp luật và lấy lại số tiền đặt cọc không?
Mong công ty tư vấn pháp luật cho tôi ý kiến và cách tôi phải làm để kiện ông M ra pháp luật. Tôi xin cảm ơn!
Người gửi câu hỏi: thudung vu
>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162
Trả lời:
Pháp luật cho phép các bên được tự do thảo thuận, ký kết các hợp đồng nhưng phải trogn quy định của pháp luật. không được trái với quy định pháp luật và đạo đức xã hội. Tuy nhiên giữa bạn và ông Miền có thỏa thuận với nhau về việc chạy công chức, đây là thỏa thuận có nội dung trái quy định pháp luật nên sẽ tuyên bố giao dịch giữa 2 bên vô hiệu đồng thời trả lại cho nhau những gì đã nhận. Do đó, khi bạn kiện ông Miền ra pháp luật bạn có thể lấy lại được só tiền đã đưa cho ông Miền. điều này được pháp luật quy định tại khoản 2 điều 131 Bộ luật dân sự có quy định:
2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.
Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả.
Trân trọng./.
4. Tư vấn hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản ?
Trả lời:
Anh trai bạn có thể khởi kiện hành vi này. Kết hôn không làm giấy đăng ký, mang toàn bộ số vàng đi, đây là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015. Đơn khởi kiện được nộp tại tòa án nhân dân cấp quân, huyện nơi anh trai bạn đang cư trú, làm việc. Tuy nhiên trước khi khởi kiện gia đình bạn cần xem xét và tìm hiểu xem có chuyện gì khúc mắc trong việc này để có quyết định chính xác kiện hay không kiện.
5. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt đối với mặt tinh thần của người bị hại.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
d) Tái phạm nguy hiểm;
đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
g) Chiếm đoạt tài sản từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d tại khoản 1 của Điều này
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
b) Chiếm đoạt tài sản từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại điểm a, b, c và d tại khoản 1 của Điều này.
c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
b) Chiếm đoạt tài sản từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại điểm a, b,c và d tại khoản 1 của Điều này.
c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự qua điện thoại gọi: 1900.6162
Bộ phận tư vấn luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê