1. Bị lừa đảo tiền qua facebook thì phải làm thế nào ?

Tôi bị lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua tin nhắn fb với 1 nick HG tự xưng là cô đồng bói lô đề. Cô ta đăng tải những hình ảnh tin nhắn trúng đề rất hấp dẫn còn tag cả đường link fb của những người đó. Tôi có vào hỏi người đó có tên LA và được người này nói là đúng như vậy nên tôi đã tin vào quyết định theo cô đồng kia xin số đề. Lúc đầu cô ta yêu cầu tôi nộp phí là 5 triệu. Tôi mua thẻ cào điện thoại nạp cho cô ý xong cô ta bảo đợi làm lễ. Đến chiều cô ta nhắn tin cho tôi là thiếu lễ gọi vong nộp thêm 10 triệu nữa. Tôi xin thì được cô ta nói là thế nộp nửa thôi cũng được.
Tôi bảo vâng, sau đó vài ngày cô ta xóa chặn tôi. Do không hiểu biết gì về internet tôi qua hỏi nick LA thì được người này nói là cô đi lễ xa nên khóa fb lại và tôi tin. Sau đó vài ngày nữa thì nick HG kia không tồn tại nghĩa là cô ta đã xóa tài khoản. Tôi qua hỏi nick LA thì cũng trong tình trạng chặn tôi (nhưng lúc đó tôi không biết là chặn mà tôi tưởng là chưa online). 2 ngày sau người này trả lời tin nhắn tôi (chắc mở ra thấy tôi vẫn chưa biết bị lừa) rằng là nick cô đồng bị hack và cho tôi link fb mới của cô đồng ý. Sau đó tôi vào nhắn tin cho cô đồng, theo như trước kia cô ta bảo tôi nộp thêm nửa phí nữa thì tôi đã mua 5tr tiền thể điện thoại nạp cho cô ta. Cô ta bảo đợi cô vào lễ. Đến chiều cô ta lại kêu thiếu lễ gọi hồn Ông Chín phải đủ 15 triệu con ạ. Nghi ngờ mình bị lừa tôi vào hỏi nick LA thì chị này kêu là em cứ đủ phí đi cô không để em thiệt đâu. Trước chị cũng phải đủ phí đấy và sau đó tôi tìm được 1 nick cô ta đăng trúng đề và hỏi thì được người này nói là tôi bị lừa đấy vì người này cũng bị lừa giống tôi cũng bị lừa mất 10 triệu bằng những chiêu trò y hệt như tôi bị vậy. Người này nói với tôi là 2 nick kia là đồng bọn của nhau.
Những hình ảnh trúng lô đề kia là do chúng chỉnh sửa cắt ghép. Sáng hôm sau cả 2 nick đó chặn tôi vì tôi không thể truy cập trang cá nhân của họ. Tôi phải làm sao để truy tố tội danh của họ đây. Vì không có thông tin người dùng (họ lập nick giả mạo danh) không có số diện thoại, không có bất kì manh mối nào ?
Tôi phải làm sao ạ. Cảm ơn luật sư!

Trả lời:

Điều 139 Bộ luật hình sự số 15/1999/QH10 (Bộ luật hình sự sửa đổi năm 2009) về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:

"...Điều 139 Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm...".

Tại Điều 84 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định về tố giác, báo tin về tội phạm như sau:

"Điều 84. Tố giác và tin báo về tội phạm.

Công dân có thể tố giác tội phạm với cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án hoặc với các cơ quan khác của Nhà nước hoặc tổ chức xã hội. Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác.

Cơ quan hoặc tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát bằng văn bản."

Theo đó, mọi công dân khi phát hiện hành vi phạm tội đều có quyền tố giác tội phạm tới các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

Trong trường hợp này, theo như thông tin bạn cung cấp thì số tiền mà bạn bị lừa đủ điều kiện cấu thành hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, vì vậy bạn có quyền gửi đơn tố giác tội phạm tới cơ quan công an, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc UBND xã, phường hoặc UBND cấp huyện để được bảo vệ quyền lợi của mình.

* Về thời hạn giải quyết tố giác tội phạm:

Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Cơ quan điều tra trong phạm vi trách nhiệm của mình phải kiểm tra, xác minh nguồn tin và quyết định việc khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự.

Trong trường hợp sự việc bị tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn để giải quyết tố giác và tin báo có thể dài hơn, nhưng không quá hai tháng.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Xử lý hành vi lừa dối trong góp vốn kinh doanh ? Mẫu đơn tố cáo tội lừa đảo

2. Tư vấn đòi lại tài sản từ trung tâm lừa đảo ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Gần 1 tháng trước, em đến trung tâm này (1 trung tâm ở Cầu giấy) để nhận lớp gia sư. Hôm đó em nhận 1 lớp tiếng anh lương là 100k/ buổi, 2 buổi/tuần, phí trả trước là 50% lương tháng đầu.
Em không mang đủ tiền nên chỉ để lại 200k để giữ lớp. Hôm sau em đến nhận lớp thì họ bảo gia đình yêu cầu sinh viên chuyên khoa (em là sinh viên khoa pháp) nên phân cho em lớp khác. Họ bảo lớp này ở Đan phượng, trên Nhổn 1 tý thôi (thực sự lúc đó em không biết Đan Phượng là chỗ nào, họ nói thế, em nhẹ dạ nên tin). Họ bắt em nói dối là sinh viên chuyên khoa, và sinh năm 94 (em sinh năm 95) và nhắc em đi dạy rồi báo với gia đình là em đến dạy người em trước rồi sẽ có sinh viên khác đến dạy người anh. Đến hôm đi dạy em mới biết nhưng em vẫn chấp nhận dạy đàng hoàng. Em nói chuyện với gia đình rõ ràng, mới rõ là gia đình yêu cầu 1 gia sư dạy 2 anh em (một người lớp 8, một người lớp 12). Em dạy bé lớp 8, và xếp lịch chắc chắn rồi thì 3 ngày sau, gia đình báo tin em không cần đến dạy nữa vì lí do kinh tế họ không thể thuê gia sư cho cả 2 anh em nên chỉ muốn ưu tiên người anh cuối cấp mà thuê gia sư. Em mới gọi điện cho giám đốc trung tâm. (tới đây em xin phép được thay đổi ngôi xưng hô). Ban đầu em hỏi "Trung tâm gia sư HĐ đúng ko ạ? " thì hắn: "đúng rồi em" ngọt lắm đến khi em nói tình huống, chưa cả xong hắn đã bảo: "có chuyện gì hôm sau đến trung tâm giải quyết" rồi cúp máy luôn. Em gọi lại cũng không nghe.
Vì ở Trung tâm còn có 2 chị con gái nữa nên em lên mạng search trang web của TT để inbox hỏi xem TT có làm việc chủ nhật ko (vì chuyện hôm đó xảy ra vào thứ 7) thì em tìm được 1 trang web tố cáo TT này thành lập từ lâu rồi và là trang web lừa đảo. Có rất nhiều bạn cũng bị như em. Họ có chụp lại được hợp đồng và đăng lên page (HỢP ĐỒNG CỦA EM THÌ HỌ GIỮ LẠI, KHÔNG CHO CẦM, NÓI LÀ BẢO LƯU), họ cũng bị bắt nói dối, gặp trục trặc như em. Em đâm ra lo lắng và sốt sắng. Sáng thứ 2 em đến văn phòng đối chứng, muốn giải quyết hợp đồng thì họ nói là phải gọi điện xác minh lại với học sinh đã (nhưng họ không gọi ngay lúc đó), bắt em về đợi 10 ngày sau ra. Vấn đề của em là, em quá lo lắng và sốt sắng nên khi về em lại gọi điện cho học sinh, nhận dạy người anh. Học sinh bảo phải học thử đã. Nhà học sinh thì xa, mà lại muốn học thử nên em lo sợ nếu họ không nhận thì rất phí công em đi lại xa như vậy miễn phí 2 hôm . 3 hôm sau em ra TT, họ mượn cớ do em tự ý nhận lớp nên em phải đợi 10 hôm nữa để chuyển lớp và chỉ được chuyển 70% phí cũ sang. Em bảo em muốn hủy hợp đồng thì họ không cho hủy. 10 ngày sau em đến, họ lại hẹn 3 ngày sau đến để nhận lớp tiếng pháp. 3 ngày sau, em đến, họ lại bảo gia đình yêu cầu giáo viên nên để 3 hôm sau, em ra nhận lớp tiếng anh. Em nhận được 1 lớp tiếng anh ở giảng võ, lương 100k/ buổi, 2 buổi/tuần. Em phải đóng thêm 60k tiền phí. Sau đó em gọi điện cho gia đình thì họ bảo họ chả hẹn tìm gia sư nào hết. Em lại đến TT hỏi thì các chị con gái nói 7 tối hôm đấy gọi điện cho tên giám đốc để hắn gọi điện hỏi phụ huynh. xong cuối cùng em vẫn không nhận được lớp, hết lần này đến lần khác bắt em chờ nhận lớp . Em là sinh viên nghèo, nên kinh tế rất khó khăn mà lại gặp phải những tên lừa đảo vô lương tâm như vậy. Em muốn hỏi :
- Bản hợp đồng ( em chưa kí và bọn họ giữ hợp đồng của em), một số bạn bị lừa đã chụp ảnh lại bản hợp đồng. Vậy em làm thế nào để có thể tố cáo hành vi lừa đảo của bọn họ để lấy lại tiền phí, tránh bị trả thù và tránh hậu họa cho các bạn sinh viên khác?
Mong luật sư sớm trả lời! Em xin chân thành cám ơn!
Người gửi: NTP

>> Luật sư tư vấn Luật Hình sự, gọi:1900.6162

Trả lời:

Đầu tiên chúng tôi xin được chia sẻ với bạn sự việc này, chúng tôi rất hiểu cảm giác và suy nghĩ của bạn lúc này.

Điều 405 Luật dân sự 2005 quy định:

“Hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”.

Khoản 4 Điều 404 Bộ luật dân sự 2005 quy định:

“Thời điểm giao kết hợp đồng bằng văn bản là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản”.

Theo quy định trên, hợp đồng có hiệu lực từ thời điểm giao kết, và đối với hợp đồng bằng văn bản thì thời điểm giao kết là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản. Như vậy, có thể hiểu hợp đồng bằng văn bản có hiệu lực từ thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản.

Theo như thông tin mà bạn cung cấp thì bạn và trung tâm Gia sư có làm hợp đồng bằng văn bản, và không có thỏa thuận về hiệu lực của hợp đồng. Bên trung tâm gia sư đã ký vào hợp đồng, bạn vẫn chưa ký vào hợp đồng, vì vậy hợp đồng này chưa có hiệu lực. Do đó, bạn có thể lấy lại toàn bộ số tiền đã nộp cho trung tâm này.

Đối với các trường hợp của bạn của bạn: hợp đồng dân sự vô hiệu do bị lừa dối theo Điều 132 BLDS 2005.

Khoản 1 Điều 410 Bộ luật dân sự 2005 quy định:

“Các quy định về giao dịch dân sự vô hiệu từ Điều 127 đến Điều 138 của Bộ luật này cũng được áp dụng đối với hợp đồng vô hiệu.”

Điều 132 Bộ luật dân sự 2005:

“Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa thì có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu. Lừa dối trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.”

Trong trường hợp này, trung tâm gia sư có rất nhiều hành vi lừa dối khiến bạn hiểu sai về tính chất và nội dung của hợp đồng khong những thế còn không tuân thủ đúng theo các quy định của hợp đồng.

Điều 137 BLDS 2005 quy định về hậu quả pháp lý của hợp đồng dân sự bị vô hiệu như sau:

"1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập.

2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường."

Do đó, bạn và những người cũng đang bị lừa như bạn có thể gửi đơn yêu cầu kèm theo các chứng cứ có căn cứ pháp luật đến Tòa án nơi có trụ sở của trung tâm gia sư để được giải quyết lấy lại số tiền đã bị lừa.

Ngoài ra, nếu bạn đã đóng vào trung tâm đó với số tiền từ 500 nghìn đồng trở lên thì có thể làm đơn khiếu kiện trung tâm đó theo quy định tại Điều 139 Bộ luật hình sự 1999

Điều 139 quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:

"1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Nếu cơ quan điều tra tiến hành điều tra thấy có đủ các yếu tố cấu thành tội phạm của tội này thì trung tâm gia sư đó sẽ bị truy tố trước pháp luật.

Việc bạn tố cáo hành vi vi phạm pháp luật là để bảo về quyền và lợi ích của bạn cũng như những người xung quanh. Quyền và lợi ích của bạn sẽ luôn được pháp luật bảo vệ, bạn không cần lo lắng việc bị trả thù.

Trên đây là sự tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn, hy vọng có thể giúp bạn tìm được cách giải quyết tốt nhất cho vấn đề của mình. Nếu có bất kỳ thắc mắc nào khác bạn có thể trực tiếp đến văn phòng của công ty chúng tôi ở địa chỉ trụ sở Công ty luật Minh Khuê hoặc bạn có thể liên hệ với chúng tôi qua địa chỉ email Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc gọi điện để được tư vấn qua tổng đài 1900.6162 .

>> Xem thêm:  Tư vấn về việc bị lừa chuyển tiền vào tài khoản ? Cách tố cáo lừa đảo

3. Tố cáo tội lừa đảo và làm ảnh hưởng danh dự, nhân phẩm người khác ?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi cần tư vấn như sau: Tôi năm nay 24 tuổi tôi và người con trai đó quen nhau khi anh ta lên làm việc cho tôi. Quen nhau được 1 thời gian 2 người vượt qua giới hạn, tôi đã có thai. Nhưng khi có thai anh ta tỏ ra thờ ơ và chỉ hứa xuống về nhà nói chuyện với bố mẹ. Nhưng trong thời gian anh ta về nhà không hề nói chuyện với bố mẹ anh mà anh ta quay lại với người yêu cũ.
Tôi bây giờ đã mang thai gần 5 tháng nhưng anh ta không hề quan tâm và cũng không có bất cứ trách nhiệm nào cũng không hề gọi điện hỏi thăm.Bây giờ tôi muốn khởi tố anh ta tội lừa đảo và tội làm ảnh hưởng đến danh dự nhân phẩm của tôi và gia đình tôi có được không? Tôi bây giờ đang phải ôm cái thai và phải xa nhà làm ăn. Mà anh ta vẫn nhởn nhơ đi lừa đảo các cô gái khác và còn tuyên bố với tôi là sẽ lấy vợ và còn nói tôi nên biết điều. Tôi rất bức xúc xin luật sư tư vấn cho tôi làm thế nào để bắt anh ta chịu mọi hình phạt ?
Tôi xin chân thành cảm ơn.
Người gửi: K.L

>> Luật sư tư vấn luật hình sự gọi số: 1900.6162

Trả lời:

Thứ nhất, Bạn muốn kiện anh ta tội lừa đảo và lừa đảo ở đây chỉ có tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại khoản 1 điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 :

Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

Tuy nhiên theo thông tin bạn cung cấp thì anh ta chưa có dấu hiệu gian dối để chiếm đoạt tài sản. Anh ta chỉ có dấu hiệu gian dối tình cảm của bạn, và hành vi gian dối tình cảm không cấu thành tội theo quy định của Pháp luật Việt Nam.

Thứ hai, bạn muốn kiện anh ta tội làm ảnh hưởng đến danh dự nhân phẩm của bạn và gia đình bạn. Bộ luật Hình sự quy định tội làm nhục người khác như sau:

Điều 121. Tội làm nhục người khác

1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến ba năm:

a) Phạm tội nhiều lần;

b) Đối với nhiều người;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Đối với người thi hành công vụ;

đ) Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Do đó, hành vi quy định trong cấu thành tội phạm này là hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm (như dùng lời nói chửi bới, dùng chất bẩn ném vào nạn nhân giữa đông người...). Hành vi của người đàn ông kia là lừa dối tình cảm của bạn, không có dấu hiệu xúc phạm danh dự, nhân phẩm. Việc bạn cho rằng bạn bị xúc phạm danh dự, nhân phẩm là cảm nhận của bạn, do đó, bạn không thể tố cáo anh ta về tội phạm này được.

Bạn chỉ có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xác định cha cho con của mình để nhận cấp dưỡng.

Theo điều 101, 102 và 110 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014:

Điều 101. Thẩm quyền giải quyết việc xác định cha, mẹ, con

1. Cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền xác định cha, mẹ, con theo quy định của pháp luật về hộ tịch trong trường hợp không có tranh chấp.

2. Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp có tranh chấp hoặc người được yêu cầu xác định là cha, mẹ, con đã chết và trường hợp quy định tại Điều 92 của Luật này.

Quyết định của Tòa án về xác định cha, mẹ, con phải được gửi cho cơ quan đăng ký hộ tịch để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch; các bên trong quan hệ xác định cha, mẹ, con; cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

Điều 102. Người có quyền yêu cầu xác định cha, mẹ, con

1. Cha, mẹ, con đã thành niên không bị mất năng lực hành vi dân sự có quyền yêu cầu cơ quan đăng ký hộ tịch xác định con, cha, mẹ cho mình trong trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 101 của Luật này.

2. Cha, mẹ, con, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án xác định con, cha, mẹ cho mình trong trường hợp được quy định tại khoản 2 Điều 101 của Luật này.

Điều 110. Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con

Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi. Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.6162 .

>> Xem thêm:  Bị lừa qua mạng có cách đòi được không ? Cách xư lý việc lừa tiền chạy việc

4. Tư vấn về tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản ?

Kính gửi văn phòng luật sư Minh khuê! Tôi là người Việt Nam, quốc tịch Việt Nam đang sinh sống tại Moscow, liên Bang Nga. Hai tháng trước tôi có đặt đơn hàng trị giá 8,7 tỷ ( 3000 chai rượu Macallan 18), đặt cọc 2.9 tỷ, cơ sở là giấy biên nhận tiền và cam kết giao hàng đến ngày 23/7/2016, còn các hình thức thanh toán, đia điểm nhận hàng và vận chuyển thì thoả thuận miệng và trên viber, không ghi rõ bằng văn bản (do công ty này tôi được người quen giới thiệu nên tôi tin tưởng, đó là sơ suất của tôi).
Trong giấy biên nhận thì người bên công ty điền thông tin theo CMND Việt Nam, mà không theo hộ chiếu, mặc dù ở nước ngoài. Trong quá trình đặt hàng thì đại diện bên công ty liên tục nghĩ ra các lý do, thủ đoạn để thay đổi phương thức thanh toán (trả đủ tiền trước rồi cùng đi lấy hàng, thoả thuận trước đó là hàng đến nơi mới thanh toán), thay đổi địa điểm nhận hàng và phương thức vận chuyển và 3 lần ép bên tôi đóng thêm tiền. Hiện tại tôi đã đưa tiền cho người bên công ty 5.4 tỷ nhưng vẫn chưa nhìn thấy xe hàng đâu, họ ép là trả đủ mới lấy hàng, không cho xem hàng. Bên công ty thông báo là hàng trên xe Container, cùng hàng (rượu) của 3 khách khác nữa nhưng cũng chưa một ai nhìn thấy hàng măc dù có những khách khác đã thanh toán đến 90% tiền hàng.
Bên công ty viện cớ là do bên tôi còn nợ nhiều tiền nên chưa thể dỡ xe container và không ai nhận được hàng. Gần đây tôi phát hiện người bên công ty lúc nhận tiền trước đó có tên tuổi và số CMND khác với tên và số CMND trên hộ chiếu (CMND cấp năm 2011 với 1 tên khác và hộ chiếu cấp năm 2012 với 1 tên khác). Khi tôi yêu cầu người bên công ty cung cấp hộ chiếu thì chị ta gửi cho tôi bản công chứng hộ chiếu rõ ràng được làm giả (gửi qua Viber). Tôi cũng phát hiện ra là bên công ty bảo tôi đặt hàng chị ta thì giải quyết với chị ta mà chị ta thì ko có tư cách pháp nhân đặt 3000 chai rượu bán cho tôi, đây là hình thức đùn đẩy trách nhiệm vì tên chủ công ty và chị ta đồng loã với nhau. Tôi thấy có các dấu hiệu lừa đảo rõ ràng ở đây. Đã quá thời hạn giao hàng mà chị ta chưa giao hàng cho tôi, không có giấy tờ chứng minh đã đặt hàng và ko cho xem hàng.
Xin hỏi, tôi có thể kiện chị ta (người nhận tiền ) tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không?
Tôi đặt 1 lượng lớn rượu vậy thì liệu có bị quy vào tội buôn lậu không vì tôi cũng ko có giấy phép kinh doanh? Tôi cũng mới chỉ đặt hàng và chưa nhận rượu, cũng chưa bán cho ai (có nhắn tin qua Viber là tôi đặt hàng cho khách của tôi). Tôi có giấy biên nhận và cam kết giao hàng, ghi âm nói chuyện và các đoạn chat qua viber.

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời:

1. Về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Theo như bạn nêu thì hành vi của chị ta (người nhận tiền) đã đủ các dấu hiệu cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định Bộ luật Hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009:

Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Như vậy, với số tiền lừa của bạn là trên 500 triệu đồng thuộc trường hợp Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên, mức phạt sẽ là từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân.

2. Về việc buôn bán rượu số lượng lớn

Bạn cần hiểu về tội buôn lậu được quy định tại Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi, bổ sung 2009:

Điều 153. Tội buôn lậu

1. Người nào buôn bán trái phép qua biên giới thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Hàng hoá, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý có giá trị từ một trăm triệu đồng đến dưới ba trăm triệu đồng hoặc dưới một trăm triệu đồng nhưng đã bị xử phạt hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 154, 155, 156, 157, 158,159,160 và 161 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 193, 194, 195, 196, 230, 232, 233, 236 và 238 của Bộ luật này;

b) Vật phẩm thuộc di tích lịch sử, văn hoá;

c) Hàng cấm có số lượng lớn hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 154, 155, 156, 157, 158,159,160 và 161 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 193, 194, 195, 196, 230, 232, 233, 236 và 238 của Bộ luật này.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Vật phạm pháp có giá trị từ ba trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

đ) Hàng cấm có số lượng rất lớn;

e) Thu lợi bất chính lớn;

g) Lợi dụng chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh hoặc hoàn cảnh đặc biệt khó khăn khác;

h) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

i) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

k) Phạm tội nhiều lần;

l) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Vật phạm pháp có giá trị từ năm trăm triệu đồng đến dưới một tỷ đồng;

b) Hàng cấm có số lượng đặc biệt lớn;

c) Thu lợi bất chính rất lớn;

d) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Vật phạm pháp có giá trị từ một tỷ đồng trở lên;

b) Thu lợi bất chính đặc biệt lớn;

c) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Pháp luật chỉ quy định về điều kiện nhập rượu để kinh doanh. Nếu bạn chỉ mua rượu, chưa bán và không có ý định bán cũng như đã nộp các loại thuế và làm thủ tục đầy đủ thì không phải là buôn lậu. Hơn nữa, bạn còn chưa nhận được hàng, vì thế không thể coi là buôn lậu.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email:Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Cách giải quyết khi bị lừa tiền nhờ xin việc ? Tố cáo hành vi lừa tiền chạy việc ở đâu ?

5. Dấu hiệu cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là gì ?

Thưa Luật sư, ông bạn tôi là người dân tộc thiểu số không biết chữ, muốn vay vốn phát triển sản xuất, do quen biết với bà B, ông C, bà D. Ông bạn tôi có đưa sổ đỏ (diện tích 05 ha) cho bà B đi vay vốn. Ngày 10 tháng 8 năm 2014, ông ấy cùng bà B, ông C, bà D đến phòng công chứng làm hợp đồng và lăn tay.
Sau đó, trên đường về nhà ông C và bà D đưa cho ông bạn tôi 300 triệu đồng (ông ấy không được giữ hợp đồng). Đến ngày 11 tháng 10 năm 2016 ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn đến nhà ông bạn tôi thông báo phát mại tài sản xổ đỏ với lý do diện tích đất trên đã chuyển nhượng cho ông K và ông K thế chấp tại ngân hàng. Đến kỳ trả nợ không trả bị ngân hàng kiện ra tòa và tịch thu tài sản. Như vậy bà B, ông C, Bà D và ông K phạm tội gì? Có khởi tố vụ án được không? Thủ tục ra sao?

>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự, gọi : 1900.6162

Trả lời:

Với thông tin bạn cung cấp chúng tôi nhận thấy một số vấn đề như sau:

Thứ nhất, có tồn tại một hợp đồng dân sự và hợp đồng này đã được công chứng thì có căn cứ về khoản vay của người vay với ba người khác không? Hay đó là một giao dịch về mua bán tài sản có đối tượng là quyền sử dụng đất và nhà ở gắn liền trên đất?

Thứ hai, đến ngày 11 tháng 10 năm 2016 Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn thông báo phát mại tài sản đã phù hợp chưa?

Thứ ba, bà B, ông C, bà D, ông K có phạm tội không? tội gì?

Dựa trên những vấn đề đó chúng tôi đưa ra lời tư vấn như sau:

- Ông Anh và ba người khác đã xác lập một giao dịch dân sự vay tài sản và có đem tới văn phòng công chứng để công chứng. Như vậy, đây chính là một cơ sở pháp lý vững chắc cho cả người vay và người cho vay. Điều đó có nghĩa là mặc dù ông Anh không có hợp đồng thì vẫn có cơ sở để khẳng định tồn tại một hợp đồng vay tài sản giữa họ. Tuy nhiên, đến ngày 11 tháng 10 năm 2016, Ngân hàng thông báo phát mại nhà của ông Anh với lý do đã được chuyển nhượng sang cho ông Khương và ông Khương đã dùng tài sản này thế chấp, không có khả năng trả nợ. Điều bày đặt ra một vấn đề là có thực sự hợp đồng mà ông Anh ký với ba người kia có thực sự là hợp đồng vay tài sản không? Hay đó là một hợp đồng mua bán tài sản. Nếu như thông báo của ngân hàng rằng đất, nhà của ông Anh đã chuyển nhượng sang cho ông Khương thì rõ ràng nhận thấy một điều rằng tồn tại một giao dịch dân sự không có giá trị pháp lý do người có tài sản bị lừa dối. Và đương nhiên giao dịch này sẽ bị tuyên bố vô hiệu nếu ông Anh yêu cầu Tòa án tuyên. Điều 132-Bộ luật dân sự năm 2005 quy định:

"Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa thì có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.

Lừa dối trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.".

Như vậy, khi một giao dịch bị tuyên bố vô hiệu thì hậu quả sẽ phát sinh. Điều 137-Bộ luật dân sự năm 2005 quy định về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu như sau:

"1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập.

2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường.".

Theo đó, quyền lợi của ông Anh sẽ được đảm bảo khi có căn cứ khẳng định giao dịch này vô hiệu do bị lừa dối và được Tòa án tuyên bố vô hiệu.

- Vấn đề đặt ra tiếp theo là nếu đây là một giao dịch vô hiệu thì bốn người kia có phạm tội không?

Nhận thấy rằng ông K là người nhận chuyển nhượng tài sản nên có thể đồng phạm với bà B, bà D, ông C. Tức là phải xét tới ông K có biết ba người này đã lừa dối để chiếm đoạt tài sản của ông Anh hay không. Nếu biết và thực hiện theo thì sẽ là đồng phạm và ngược lại.

Hành vi của ba người này đó là ký kết một hợp đồng vô hiệu do lừa dối để tiến hành chuyển nhượng nhà, đất của bị hại cho người khác. Đây là thủ đoạn gian dối lợi dụng ông Anh không biết chứ, kiến thức hạn chế....để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Như vậy hành vi của những người này chắc chắn sẽ phạm tội. Tuy nhiện đó là tội gì thì phải dựa vào cấu thành của hai tội theo Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa dổi, bổ sung năm 2009) quy định sau:

"Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ một triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

Theo hai quy định này nhận thấy, để xác định được ba người trên phạm tội theo điều 139 hay 140 thì phải xét tới mục đích phạm tội của họ xuất hiện trước hay sau thời điểm nhận tài sản. Nếu xuất hiện trước đồng nghĩa với việc thay vì ký một hợp đồng vay tài sản mà ký một hợp đồng mua bán tài sản thì họ phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo điều 139-Bộ luật hình sự năm 1999. Ngược lại, nếu mục đích xuất hiện sau tức là có ký một hợp đồng vay tài sản nhưng sau đó đã tiến hành chuyển nhượng cho ông Khương thì sẽ phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

- Khi có hành vi phạm tội xảy ra chắc chắn một điều rằng cơ quan điều tra sẽ ra quyết định khởi tố vụ án hình sự theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Điều này có nghĩa là trường hợp của ông Anh sẽ được cơ quan điều tra khởi tố vụ án để điều tra, xác minh hành vi phạm tội, người phạm tội. Vì vậy, công việc mà ông Anh cần làm bây giờ là thông báo đến cơ quan Công an để họ tiếp nhận, xử lý thông tin và ra quyết định khởi tố vụ án hình sự.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email:Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Bị lừa tiền qua facebook thì phải làm gì ? Làm sao để tố cáo khi bị lừa đảo