1. Bị lừa đảo tiền qua facebook
Tôi bị lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua tin nhắn fb với 1 nick HG tự xưng là cô đồng bói lô đề. Cô ta đăng tải những hình ảnh tin nhắn trúng đề rất hấp dẫn còn tag cả đường link fb của những người đó. Tôi có vào hỏi người đó có tên LA và được người này nói là đúng như vậy nên tôi đã tin vào quyết định theo cô đồng kia xin số đề. Lúc đầu cô ta yêu cầu tôi nộp phí là 5 triệu. Tôi mua thẻ cào điện thoại nạp cho cô ý xong cô ta bảo đợi làm lễ. Đến chiều cô ta nhắn tin cho tôi là thiếu lễ gọi vong nộp thêm 10 triệu nữa. Tôi xin thì được cô ta nói là thế nộp nửa thôi cũng được.
Tôi bảo vâng, sau đó vài ngày cô ta xóa chặn tôi. Do không hiểu biết gì về internet tôi qua hỏi nick LA thì được người này nói là cô đi lễ xa nên khóa fb lại và tôi tin. Sau đó vài ngày nữa thì nick HG kia không tồn tại nghĩa là cô ta đã xóa tài khoản. Tôi qua hỏi nick LA thì cũng trong tình trạng chặn tôi (nhưng lúc đó tôi không biết là chặn mà tôi tưởng là chưa online). 2 ngày sau người này trả lời tin nhắn tôi (chắc mở ra thấy tôi vẫn chưa biết bị lừa) rằng là nick cô đồng bị hack và cho tôi link fb mới của cô đồng ý. Sau đó tôi vào nhắn tin cho cô đồng, theo như trước kia cô ta bảo tôi nộp thêm nửa phí nữa thì tôi đã mua 5tr tiền thể điện thoại nạp cho cô ta. Cô ta bảo đợi cô vào lễ. Đến chiều cô ta lại kêu thiếu lễ gọi hồn Ông Chín phải đủ 15 triệu con ạ. Nghi ngờ mình bị lừa tôi vào hỏi nick LA thì chị này kêu là em cứ đủ phí đi cô không để em thiệt đâu. Trước chị cũng phải đủ phí đấy và sau đó tôi tìm được 1 nick cô ta đăng trúng đề và hỏi thì được người này nói là tôi bị lừa đấy vì người này cũng bị lừa giống tôi cũng bị lừa mất 10 triệu bằng những chiêu trò y hệt như tôi bị vậy. Người này nói với tôi là 2 nick kia là đồng bọn của nhau.
Trả lời:
Điều 174 về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:
Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.
Theo đó, mọi công dân khi phát hiện hành vi phạm tội đều có quyền tố giác tội phạm tới các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.
Trong trường hợp này, theo như thông tin bạn cung cấp thì số tiền mà bạn bị lừa đủ điều kiện cấu thành hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, vì vậy bạn có quyền gửi đơn tố giác tội phạm tới cơ quan công an, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc UBND xã, phường hoặc UBND cấp huyện để được bảo vệ quyền lợi của mình.
2. Tư vấn đòi lại tài sản từ TT lừa đảo?
>> Luật sư tư vấn Luật Hình sự, gọi:1900.6162
Trả lời:
Điều 401 Bộ luật dân sự 2015 quy định:
Điều 401. Hiệu lực của hợp đồng
1. Hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật liên quan có quy định khác.
Khoản 4 Điều 400 Bộ luật dân sự 2015 quy định:
4. Thời điểm giao kết hợp đồng bằng văn bản là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản hay bằng hình thức chấp nhận khác được thể hiện trên văn bản.
Theo quy định trên, hợp đồng có hiệu lực từ thời điểm giao kết, và đối với hợp đồng bằng văn bản thì thời điểm giao kết là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản. Như vậy, có thể hiểu hợp đồng bằng văn bản có hiệu lực từ thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản.
Theo như thông tin mà bạn cung cấp thì bạn và trung tâm Gia sư có làm hợp đồng bằng văn bản, và không có thỏa thuận về hiệu lực của hợp đồng. Bên trung tâm gia sư đã ký vào hợp đồng, bạn vẫn chưa ký vào hợp đồng, vì vậy hợp đồng này chưa có hiệu lực. Do đó, bạn có thể lấy lại toàn bộ số tiền đã nộp cho trung tâm này.
Đối với các trường hợp của bạn của bạn: hợp đồng dân sự vô hiệu do bị lừa dối
Điều 127. Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép
Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa, cưỡng ép thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.
Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.
Đe dọa, cưỡng ép trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch dân sự nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của người thân thích của mình.”
Trong trường hợp này, trung tâm gia sư có rất nhiều hành vi lừa dối khiến bạn hiểu sai về tính chất và nội dung của hợp đồng khong những thế còn không tuân thủ đúng theo các quy định của hợp đồng.
Điều 131 BLDS 2015 quy định về hậu quả pháp lý của hợp đồng dân sự bị vô hiệu như sau:
Điều 131. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu
1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập.
2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.
Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả.
3. Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó.
4. Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường.
5. Việc giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu liên quan đến quyền nhân thân do Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định.
Do đó, bạn và những người cũng đang bị lừa như bạn có thể gửi đơn yêu cầu kèm theo các chứng cứ có căn cứ pháp luật đến Tòa án nơi có trụ sở của trung tâm gia sư để được giải quyết lấy lại số tiền đã bị lừa.
Nếu cơ quan điều tra tiến hành điều tra thấy có đủ các yếu tố cấu thành tội phạm của tội này thì trung tâm gia sư đó sẽ bị truy tố trước pháp luật.
Việc bạn tố cáo hành vi vi phạm pháp luật là để bảo về quyền và lợi ích của bạn cũng như những người xung quanh. Quyền và lợi ích của bạn sẽ luôn được pháp luật bảo vệ, bạn không cần lo lắng việc bị trả thù.
3. Tội lừa đảo, làm ảnh hưởng danh dự, nhân phẩm
Trả lời:
Thứ nhất, Bạn muốn kiện anh ta tội lừa đảo và lừa đảo ở đây chỉ có tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2019
Thứ hai, bạn muốn kiện anh ta tội làm ảnh hưởng đến danh dự nhân phẩm của bạn và gia đình bạn. Bộ luật Hình sự quy định tội làm nhục người khác như sau:
Điều 155. Tội làm nhục người khác
1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm
Do đó, hành vi quy định trong cấu thành tội phạm này là hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm (như dùng lời nói chửi bới, dùng chất bẩn ném vào nạn nhân giữa đông người...). Hành vi của người đàn ông kia là lừa dối tình cảm của bạn, không có dấu hiệu xúc phạm danh dự, nhân phẩm. Việc bạn cho rằng bạn bị xúc phạm danh dự, nhân phẩm là cảm nhận của bạn, do đó, bạn không thể tố cáo anh ta về tội phạm này được.
Bạn chỉ có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xác định cha cho con của mình để nhận cấp dưỡng.
Theo điều 101, 102 và 110 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014:
Điều 101. Thẩm quyền giải quyết việc xác định cha, mẹ, con
1. Cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền xác định cha, mẹ, con theo quy định của pháp luật về hộ tịch trong trường hợp không có tranh chấp.
2. Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp có tranh chấp hoặc người được yêu cầu xác định là cha, mẹ, con đã chết và trường hợp quy định tại Điều 92 của Luật này.
Quyết định của Tòa án về xác định cha, mẹ, con phải được gửi cho cơ quan đăng ký hộ tịch để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch; các bên trong quan hệ xác định cha, mẹ, con; cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
Điều 102. Người có quyền yêu cầu xác định cha, mẹ, con
1. Cha, mẹ, con đã thành niên không bị mất năng lực hành vi dân sự có quyền yêu cầu cơ quan đăng ký hộ tịch xác định con, cha, mẹ cho mình trong trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 101 của Luật này.
2. Cha, mẹ, con, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án xác định con, cha, mẹ cho mình trong trường hợp được quy định tại khoản 2 Điều 101 của Luật này.
Điều 110. Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con
Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con.
4. Tư vấn về tội phạm lừa đảo chiếm đoạt TS ?
Trả lời:
1. Về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Theo như bạn nêu thì hành vi của chị ta (người nhận tiền) đã đủ các dấu hiệu cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017:
Như vậy, với số tiền lừa của bạn là trên 500 triệu đồng thuộc trường hợp Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên, mức phạt sẽ là từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân.
2. Về việc buôn bán rượu số lượng lớn
Bạn cần hiểu về tội buôn lậu được quy định tại Bộ luật hình sự 2015
Điều 188. Tội buôn lậu
“1. Người nào buôn bán qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngược lại trái pháp luật hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc dưới 100.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196 và 200 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
b) Vật phạm pháp là di vật, cổ vật.”;
Pháp luật chỉ quy định về điều kiện nhập rượu để kinh doanh. Nếu bạn chỉ mua rượu, chưa bán và không có ý định bán cũng như đã nộp các loại thuế và làm thủ tục đầy đủ thì không phải là buôn lậu. Hơn nữa, bạn còn chưa nhận được hàng, vì thế không thể coi là buôn lậu.
5. Lừa đảo qua mạng.
Xin chào luật sư ! Tư vấn giúp em trường hợp về việc dùng mạng internet lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Vì ham chơi và muốn có tiền tiêu sài bạn em bày trò lừa thẻ game qua mạng. Không may bị phát hiện và điều tra. Theo hs điều tra thì số tiền bạn em lừa đảo chiếm đoạt là 170 triệu đồng. Cho em hỏi đối với trường hợp của bạn em thì mức án thấp nhất và cao nhất bạn em có thể lãnh. Em xin cảm ơn!
Trả lời
Theo thông tin tình huống bạn cung cấp bạn của bạn có thực hiện hành vi lừa thẻ game qua mạng và bị cơ quan công an phát hiện. Trong trường hợp này bạn của bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi có các dấu hiệu cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 174 Bộ Luật Hình sự năm 2015. Cụ thể:
“Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
....2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
d) Tái phạm nguy hiểm;...”.
Trong trường hợp trên, nếu thời điểm bạn của bạn thực hiện hành vi trên bạn đã đủ 16 tuổi và có hành vi gian dối lừa thẻ game của những người trên mạng với số tiền từ 2 triệu đồng trở lên thì bạn của bạn sẽ bị truy cứu TNHS về tội danh lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Theo như thông tin bạn cung cấp thông qua các giấy tờ bạn xác minh bạn của bạn lừa đảo chiếm đoạt tài sản là 170 triệu đồng. Thực chất về việc xác định giá trị tài sản bạn của bạn chiếm đoạt sẽ do cơ quan điều tra tiến hành xác minh làm rõ dựa trên các căn cứ giao dịch của bạn của bạn với những người trả thẻ cho bạn của bạn trên thực tế, cơ quan điều tra sẽ lập biên bản điều tra và đưa ra kết luận điều tra vụ việc của bạn của bạn. Sau đó, Viện kiểm sát và Tòa án sẽ căn cứ vào kết quả điều tra để tiến hành định khung hình phạt đối với trường hợp của bạn của bạn.
Trường hợp bạn của bạn nếu số tiền bạn chiếm đoạt có giá trị từ 50 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng thì bạn có phải chịu TNHS trong khung hình phạt từ 2 đến 7 năm tù với mức thấp nhất là 2 năm tù và mức hình phạt cao nhất là 7 năm tù. Tuy nhiên, việc quyết định mức phạt tù đối với bạn của bạn sẽ do Tòa án quyết định dựa trên tính chất của hành vi lừa đảo và giá trị tài sản mà bạn chiếm đoạt trên thực tế.
Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email:Lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê