1. Nợ thuê tiền thua các độ bóng đó thì giải quyết như thế nào ?

Thưa luật sư, em có thiếu 60trieu tiền đá bóng. Nhưng em ko khả năng chi trả. Hứa sẽ trả 500 ngàn mỗi tháng nhưng ko dc họ cứ nhắn tin đe dọa ham gia đình em kêu xa hội đen xuống nhà. Trong tình huống này em phai giải quyết thế nào à ?
Em đang rất lo lắng. Cảm ơn luật sư.

Luật sư trả lời:

Thứ nhất: Vì bạn chưa nói rõ về nguồn gốc nợ cũng như việc vay nợ của bạn với bên cho vay cụ thể như thế nào nên luật sư không thể tư vấn cho bạn về giao dịch dân sự nhưng ở đây có dấu hiệu vi phạm pháp luật của nhóm người thu nợ với bạn. Nhưng theo như bạn nêu thì họ mới chỉ nhắn tin và hẹn đến nhà nên chưa đủ căn cứ để có thể truy cứu trách nhiệm hình sự đối với những người này.

Căn cứ theo quy định pháp luật hình sự quy định tại chương XIV Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi 2017 quy định thì rất có thể những đối tượng này có thể sẽ vi phạm pháp luật hình sự. Nếu có căn cứ họ vi phạm pháp luật xâm hại đến danh dự, tính mạng hay sức khỏe của bạn thì bạn có thể trình báo cơ quan công an để được pháp luật bảo vệ.

Các đối tượng có hành vi đe dọa và tiếp theo sẽ có thể có các hành vi thô bạo thì họ có thể phải chịu trách nhiệm hình sự tùy vào mức độ vi phạm hoặc ít nhất là bị xử phạt hành chính theo quy định tại Nghị định 167/2013/NĐ-CP năm 2013. Vậy nên luật sư xin vấn như vậy để bạn hiểu rõ hơn quy định pháp luật từ đó có phương án tự bảo vệ mình cũng như có căn cứ để tố cáo ra cơ quan có thẩm quyền.

Thứ hai: Nếu bạn thấy có dấu hiệu của việc cho vay nặng lãi thì bạn có thể gửi đơn khởi kiện lên Tòa án nhân dân cấp huyện để yêu cầu Tòa án tuyên hợp đồng vay tiền của bạn với người cho vay vô hiệu do vi phạm quy định pháp luật cho vay. Theo quy định tại Điều 201 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi 2017 quy định cho vay nặng lãi trong giao dịch dân sự là hành vi vi phạm pháp luật.

"Điều 201. Tội cho vay nặng lãi trong giao dịch dân sự

1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2.Phạm tội thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm."

Mức lãi suất cho vay trong giao dịch dân sự hiện nay không được quá 5 lần mức lãi suất ngân hàng nhà nước quy định vậy nên bạn có thể xem lại thỏa thuận của bạn với bên cho vay có vi phạm quy định pháp luật hay không để từ đó có hướng để giải quyết sự việc của mình.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay tới số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Phải làm sao khi bị công ty tài chính làm phiền khi lỡ xác nhận thông tin để người khác vay tiền trả góp ?

2. Bị ép viết giấy nợ thì có phải trả hay không ?

Xin chào công ty Luật Minh Khuê, tôi có một số thắc mắc cần nhờ công ty tư vấn giúp như sau: tôi có giúp người quen (A) mượn một khoản tiền của người khác (B). Tôi chỉ là trung gian giúp A vay tiền của B ngoài ra tôi không biết gì khác. Tuy nhiên, do làm ăn thua lỗ nên A đã di chuyển đến nơi khác, tôi không hề biết A chưa trả hết tiền cho B.
Hôm trước, B đến nhà tôi dẫn theo một số thanh niên khác đến, uy hiếp và đe dọa tôi viết giấy vay nợ. Vì để đảm bảo tính mạng của mình nên tôi đã viết giấy vay tiền của B là 20 triệu đồng và hạn trả là 2 tuần sau. Vậy tôi phải làm gì trong trường hợp này, tôi có phải trả số tiền kia hay không và nếu không trả thì tôi có thể bị kiện không?
Cảm ơn luật sư!

Trả lời:

Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự như sau:

1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;

b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;

c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

2. Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định.

Theo như thông tin bạn cung cấp thì bạn chỉ là người giới thiệu cho A vay tiền B, ngoài ra bạn không hề tham gia vào bất kỳ quá trình nào khác trong mối quan hệ vay mượn giữa 2 người này. Vì vậy, việc B ép bạn viết giấy vay tiền là hoàn toàn trái quy định của pháp luật. Theo đó, Giấy vay tiền bạn đã viết sẽ không có hiệu lực, bạn hoàn toàn có thể làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố Giấy vay tiền đó vô hiệu. Cụ thể điều 127 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép như sau:

Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa, cưỡng ép thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.

Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.

Đe dọa, cưỡng ép trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch dân sự nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của người thân thích của mình.

Thời hiệu để bạn viết đơn yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch trên vô hiệu là 02 năm kể từ khi Người có hành vi đe dọa, cưỡng ép chấm dứt hành vi đe dọa, cưỡng ép. Khi giao dịch được tuyên bố vô hiệu, bạn sẽ không phải chịu bất kỳ nghĩa vụ nào phát sinh từ giao dịch đó. Theo quy định của pháp luật thì hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu bao gồm:

- Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập.

- Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.

Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả.

- Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó.

- Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường.

>> Xem thêm:  Thế nào là tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản ? Hình phạt hành vi chiếm đoạt tài sản

3. Hành vi giữ tài sản để đòi nợ có vi phạm pháp luật không ?

Xin chào Luật Minh Khuê, tôi có câu hỏi xin được giải đáp như sau: Chị H là bạn và đồng nghiệp của tôi, năm 2008 chị H nợ tôi 6 triệu đồng có viết giấy nợ sau đó tôi đòi nhiều lần chị H không trả. Trưa ngày 25/5/2016 được biết chị H đang có mặt tại một văn phòng đông người tôi đã đến đó để gặp chị H, lúc này chị H đang bận nói chuyện với những người khác.
Tôi gặp chị X là em chồng chị H, biết tôi đến đòi nợ chị H, sợ tôi làm ầm lên không hay cho chị H, chị X đã nói với tôi là để chị H xong việc thì nói chuyện. Lúc này tôi thấy 1 túi sách, 1 điện thoại trên bàn chỗ chị X ngồi tôi hỏi chị X và biết là của chị H, tôi nói với chị X là tôi cầm điện thoại của H tí nữa bảo H đến nhà số 35 đường Điện biên gặp tôi nói chuyện chị X đã đồng ý, Sau đó không thấy chị H đến gặp tôi cũng không thấy gọi điện thoại. Đến chiều ngày 25/5/2016 tôi được công an phường mời đến làm việc, lập biên bản và nói tôi phạm tội trộm cắp tài sản. Vậy với những tình tiết như trên tôi có phạm tội không? Phạm tội gì? Hình thức xử phạt ?.
Mong sớm nhận được ý kiến tư vấn từ tổng đài. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hành vi giữ tài sản để đòi nợ có vi phạm pháp luật không ?

Luật sư tư vấn hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Về hình sự: Với những tình tiết như bạn vừa nêu không cấu thành tội phạm hình sự nào cả. Việc công an phường mời bạn đến làm việc có thể là do lời khai của chị H và cách nhìn nhận chưa đủ khách quan, bởi để cấu thành tội trộm cắp tài sản cần phải thỏa mãn các yếu tố sau: Hành vi chiếm đoạt được thực hiện một cách lén lút, bí mật. Việc lén lút bí mật nhằm che giấu hành vi phạm tội để chủ sở hữu không biết việc chiếm đoạt đó và ý thức chủ quan của người phạm tội trộm cắp tài sản cũng có ý thức giấu giếm hành vi chiếm đoạt tài sản đối với chủ tài sản. Tuy nhiên, trong trường hợp của bạn việc bạn cầm điện thoại của chị H, ý thức chủ quan của bạn không có ý thức giấu giếm với chị H, bạn đã nói với chị X biết là bạn cầm điện thoại của chị H và nhờ chị X nói với chị H rằng bạn đang cầm điện thoại của chị ấy. Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là dấu hiệu đặc trưng của tội trộm cắp tài sản nhưng trong trường hợp này không thỏa mãn dấu hiệu đó, do vậy bạn không phạm tội trộm cắp tài sản quy định tại Điều 173 Bộ Luật Hình sự 2015 sửa đổi 2017

Tuy nhiên theo điểm e khoản 2 điều 15 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự với hành vi chếm giữ tài sản của người khác chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự sẽ bị xử phạt hành chính :

“2. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác;

b) Gây mất mát, hư hỏng hoặc làm thiệt hại tài sản của Nhà nước được giao trực tiếp quản lý;

c) Dùng thủ đoạn hoặc tạo ra hoàn cảnh để buộc người khác đưa tiền, tài sản;

d) Gian lận hoặc lừa đảo trong việc môi giới, hướng dẫn giới thiệu dịch vụ mua, bán nhà, đất hoặc các tài sản khác;

đ) Mua, bán, cất giữ hoặc sử dụng tài sản của người khác mà biết rõ tài sản đó do vi phạm pháp luật mà có;

e) Chiếm giữ trái phép tài sản của người khác.”

Như vậy, với hành vi của bạn, tuy chưa đủ cơ sở để cấu thành tội phạm chiếm giữ trái phép tài sản theo Điều 176 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017, thì lúc này bạn sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi chiếm giữ chiếc điện thoại trên của chị H.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Không có giấy vay tiền có khởi kiện đòi nợ được không ? Con nợ bỏ trốn có đòi được không ?

4. Trốn nợ có bị truy cứu trách nhiệm hình sự ?

Thưa luật sư. Vào năm 2013 bố mẹ tôi có cho một người hàng xóm vay với số tiền là 1. 400. 000 triệu có giấy tờ ký giữa hai bên, nhưng đến năm 2014 bố mẹ tôi có đòi lại số tiền trên nhưng người đó không có khả năng trả nợ và đã ký giấy giao nhà, giao tài sản ( máy cày, xe máy), nhưng đến thời hạn giao nhà người đó đã bỏ trốn khỏi địa phương và đến nay vẫn chưa chả được số tiền trên. ( người đó còn vay rất nhiều người ở địa phương và đều ký giấy bàn giao tài sản) vậy cho tôi hỏi hình thức trên có phải là vụ án hình sư không.
Nếu phải thi chúng tôi gửi lên cơ quan chức năng nào để giải quyết ?
Xin trân trọng cảm ơn quý luật sư.

Luật sư trả lời:

Thứ nhất: Trong trường hợp này thì người hàng xóm đang có nghĩa vụ phải thanh toán nợ cho mẹ bạn vậy nên căn cứ theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 thì buộc người đó phải có nghĩa vụ trả tiền.

"Điều 280. Thực hiện nghĩa vụ trả tiền

1. Nghĩa vụ trả tiền phải được thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm và phương thức đã thỏa thuận.

2. Nghĩa vụ trả tiền bao gồm cả tiền lãi trên nợ gốc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác."

Thứ hai: Trường hợp người hàng xóm này đã bỏ trốn khỏi địa phương như một cách để trốn nợ thì mình có thể làm đơn yêu cầu khởi tố vụ án, khởi tố người này về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Bộ luật hình sự năm 2015.

"Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào thực hiện một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại hoặc tài sản có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng; d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức; đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

4. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản."

Để đảm bảo quyền lợi của gia đình mình cũng như những người ở địa phương cũng như phải có hình phạt thích đáng đối với người hàng xóm này thì bạn có thể giúp mẹ và những người khác làm đơn yêu cầu khởi tố gửi lên cơ quan công an điều tra hoặc viện kiểm sát nhân dân cấp huyện để được giải quyết theo quy định pháp luật. Khi người này phải chịu trách nhiệm hình sự đồng thời phải thanh toán các nghĩa vụ nợ cho mẹ bạn và những người khác.

Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.0159.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Bị đòi nợ trước thời hạn trả đã thỏa thuận trong hợp đồng vay xử lý thế nào ?