1. Mẫu biên bản họp gia đình phân chia đất
Biểu mẫu liên quan:
>> Tải mẫu biên bản họp gia đình
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
------*------
……, ngày …. tháng …. năm 20….
BIÊN BẢN HỌP GIA ĐÌNH
( V/v: Phân chia phần đất hương hỏa gia đình)
Hôm nay, ngày … tháng …. năm 20….., tại nhà Ông ….. (con trưởng): Đội…., xã ….., huyện ……, tỉnh ……... Gia đình Chúng tôi tiến hành họp mặt các con trai, con gái của Cụ Ông ……. và cụ Bà ….. (tức cụ …..) với thành phần và nội dung cuộc họp như sau:
Thành phần tham dự cuộc họp:
- Ông ……...........….. – Là con trai trưởng (đã mất), Ông ………….. là con trai cả đại diện;
- Ông ……………....;
- Bà ………………. ;
- Bà ……………….;
- Bà ……………….;
Nội dung cuộc họp:
- Phần đất hương hỏa do Cụ Ông ………. và cụ Bà ………… (tức cụ ……) mất để lại không có di chúc là tài sản thừa kế chung của các con (con trai và con gái). Tất cả mọi thành viên trong gia đình đồng ý để lại cho cháu đích tôn …….. m2. Phần đất này đã chuyển nhượng cho Ông ………… và vợ là bà ………… và tất cả các thành viên trong gia đình đã đồng ý và không tranh chấp.
- Phần đất còn lại là: ………. m2 các thành viên trong gia đình thống nhất như sau:
+ Phần đất còn lại là: ……….. m2 tất cả các thành viên trong gia đình thống nhất để Ông ………… đứng tên làm đại diện chủ sở hữu trên sổ đỏ, theo giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số ……… do UBND huyện …….. cấp ngày …. tháng ….. năm 20…...
+ 100 m2 được dùng làm từ đường dòng họ, không được mua bán, chuyển nhượng dưới mọi hình thức (vị trí nhà thờ nằm mặt đường dẫn vào thửa đất).
+ ……… m2 còn lại thuộc sở hữu chung của 9 người con, dùng vào mục đích ở và thờ cúng tổ tiên, không được bán (Nếu bán phải có sự đồng ý của tất cả 9 người con, tiền bán được phải được chia đều cho 9 người con theo danh sách trên).
Các thành viên dự họp đã biểu quyết cho ý kiến về các mục nêu trên bằng hình thức giơ tay, kết quả biểu quyết như sau:
Tán thành: 100%
Không tán thành: không
Ý kiến khác: không
Biên bản này được đọc cho mọi người cùng nghe, ký tên dưới đây và được lập thành 09 bản có giá trị pháp lý như nhau và có hiệu lực kể từ ngày ký.
Chữ ký của người tham gia cuộc họp
| Các thành viên (Ký và ghi rõ họ tên) ………………. | Các thành viên (Ký và ghi rõ họ tên) …………….…… |
| ………………… | ……………..…… |
XÁC NHẬN CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN XÃ ..............
2. Cách lập biên bản họp gia đình phân quyền sử dụng đất cho các con?
- Gia đình chị cả từ ngày 1.1.2017 yêu cầu chuyển ra ngoài ở, không được phép ở chung với ngôi nhà của bà H và người con gái thứ 3 đang sinh sống.
- Những điều khoản trên, yêu cầu tất cả mọi người trong gia đình thực hiện. Nếu như có sự thay đổi về hai điều khoản trên phải có sự thống nhất đồng bộ giữa bà H và cô con gái út ( H – là cháu)
Sau khi hoàn thành xong biên bản họp gia đình này, sẽ có chữ kí của tất cả các bên tham gia cũng như chữ kí của người làm chứng là hai bác họ cháu. Gia đình sẽ mang ra ủy ban nhân dân phường xin xác nhận công chứng ngay lập tức. Điều cháu thắc mắc là liệu mẹ và cháu có thể lập biên bản họp gia đình như vậy hay không và biên bản này sẽ có hiệu lực đúng với pháp luật trong việc phân chia tải sản mai sau của gia đình cháu, cụ thể là mẹ cháu không ạ ?
Cháu rất mong nhận được hồi đáp từ luật sớm nhất có thể. Chân thành cảm ơn luật sư rất nhiều. Chúc luật sư sức khỏe và thành công.
>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi: 1900.6162
Luật sư tư vấn:
Giả sử tại thời điểm đó bố bạn mất đi để lại di chúc cho mẹ bạn mà không có bất kỳ một người thừa kế nào đó không phụ thuộc vào nội dung di chúc còn sống theo quy định tại Điều 644 Bộ luật Dân sự năm 2015, cụ thể:
"Điều 644. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc
1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:
a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.
2. Quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này."
Thì theo quy định của Chương XI Bộ luật Dân sự năm 2015 mẹ bạn hoàn toàn có quyền sử dụng, chiếm hữu, định đoạt phần tài sản đó mà không cần phải hỏi ý kiến của bất kỳ ai. Ngoài ra, Điều 163 Bộ luật Dân sự năm 2015 có quy định như sau: "Không ai có thể bị hạn chế, bị tước đoạt trái luật quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản." và Điều 3 Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng quy định: "Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự không được xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác." do đó, việc gia đình bạn lập biên bản họp gia đình với những nội dung:
"- Chị cả thứ nhất và gia đình chị cả kể từ ngày lập biên bản không có quyền đòi hỏi hay yêu cầu mẹ cháu là bà H phân chia quyền sử dụng đất hay bất kì một tài sản nào của gia đình.
- Gia đình chị cả từ ngày 1.1.2017 yêu cầu chuyển ra ngoài ở, không được phép ở chung với ngôi nhà của bà H và người con gái thứ 3 đang sinh sống.
- Những điều khoản trên, yêu cầu tất cả mọi người trong gia đình thực hiện. Nếu như có sự thay đổi về hai điều khoản trên phải có sự thống nhất đồng bộ giữa bà H và cô con gái út ( H – là cháu) "là đang hạn chế quyền của mẹ bạn đối với tài sản đó.
3. Soạn thảo biên bản thỏa thuận về việc sinh sống chung một nhà?
>> Luật sư tư vấn trực tiếp về pháp luật đất đai gọi: 1900.6162
Trả lời:
Theo những gì bạn cung cấp chúng tôi hiểu ngôi nhà của bạn sẽ có 2 sổ hộ khẩu, một của gia đình bạn và một của em gái cùng con trai nhưng chủ sở hữu ngôi nhà vẫn là bạn nên theo khoản 1, 4 Điều 10 và Khoản 1, 3 Điều 11 Luật nhà ở 2014 bạn vẫn được toàn quyền quyết định đối với căn nhà gồm việc mua, bán, tặng, cho, sửa chữa, xây mới... Còn em gái cùng con trai chỉ được xác định là người cùng sử dụng nhà có trách nhiệm cùng quản lý nhà và sử dụng nhà theo như thỏa thuận của 2 người. Luật quy định về quyền và nghĩa vụ của chủ sở nhà ở và người sử dụng nhà ở như sau:
"Điều 10. Quyền của chủ sở hữu nhà ở và người sử dụng nhà ở
1. Đối với chủ sở hữu nhà ở là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì có các quyền sau đây:
a) Có quyền bất khả xâm phạm về nhà ở thuộc sở hữu hợp pháp của mình;
b) Sử dụng nhà ở vào mục đích để ở và các mục đích khác mà luật không cấm;
c) Được cấp Giấy chứng nhận đối với nhà ở thuộc quyền sở hữu hợp pháp của mình theo quy định của Luật này và pháp luật về đất đai;
d) Bán, chuyển nhượng hợp đồng mua bán, cho thuê, cho thuê mua, tặng cho, đổi, để thừa kế, thế chấp, góp vốn, cho mượn, cho ở nhờ, ủy quyền quản lý nhà ở; trường hợp tặng cho, để thừa kế nhà ở cho các đối tượng không thuộc diện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam thì các đối tượng này chỉ được hưởng giá trị của nhà ở đó;
đ) Sử dụng chung các công trình tiện ích công cộng trong khu nhà ở đó theo quy định của Luật này và pháp luật có liên quan.
Trường hợp là chủ sở hữu nhà chung cư thì có quyền sở hữu, sử dụng chung đối với phần sở hữu chung của nhà chung cư và các công trình hạ tầng sử dụng chung của khu nhà chung cư đó, trừ các công trình được xây dựng để kinh doanh hoặc phải bàn giao cho Nhà nước theo quy định của pháp luật hoặc theo thỏa thuận trong hợp đồng mua bán, hợp đồng thuê mua nhà ở;
e) Bảo trì, cải tạo, phá dỡ, xây dựng lại nhà ở theo quy định của Luật này và pháp luật về xây dựng;
g) Được bồi thường theo quy định của luật khi Nhà nước phá dỡ, trưng mua, trưng dụng nhà ở hoặc được Nhà nước thanh toán theo giá thị trường khi Nhà nước mua trước nhà ở thuộc sở hữu hợp pháp của mình vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng hoặc trong tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, phòng, chống thiên tai;
h) Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện đối với các hành vi vi phạm quyền sở hữu hợp pháp của mình và các hành vi khác vi phạm pháp luật về nhà ở.
4. Người sử dụng nhà ở không phải là chủ sở hữu nhà ở được thực hiện các quyền trong việc quản lý, sử dụng nhà ở theo thỏa thuận với chủ sở hữu nhà ở.
Điều 11. Nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà ở và người sử dụng nhà ở
1. Đối với chủ sở hữu nhà ở là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì có các nghĩa vụ sau đây:
a) Sử dụng nhà ở đúng mục đích quy định; lập và lưu trữ hồ sơ về nhà ở thuộc sở hữu của mình;
b) Thực hiện việc phòng cháy, chữa cháy, bảo đảm vệ sinh, môi trường, trật tự an toàn xã hội theo quy định của pháp luật;
c) Thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật khi bán, chuyển nhượng hợp đồng mua bán, cho thuê, cho thuê mua, tặng cho, đổi, để thừa kế, thế chấp, góp vốn, cho mượn, cho ở nhờ, ủy quyền quản lý nhà ở; đối với giao dịch nhà ở là tài sản chung của vợ chồng thì còn phải thực hiện theo các quy định của Luật hôn nhân và gia đình;
d) Thực hiện đúng quy định của pháp luật và không được làm ảnh hưởng hoặc gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân khác khi bảo trì, cải tạo, phá dỡ, xây dựng lại nhà ở; trường hợp thuộc diện sở hữu nhà ở có thời hạn theo quy định tại khoản 1 Điều 123 của Luật này thì việc cải tạo, phá dỡ nhà ở được thực hiện theo thỏa thuận giữa các bên;
đ) Đóng bảo hiểm cháy, nổ đối với nhà ở thuộc diện bắt buộc phải tham gia bảo hiểm cháy, nổ theo quy định của pháp luật về phòng cháy, chữa cháy và pháp luật về kinh doanh bảo hiểm;
e) Chấp hành quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật về việc xử lý vi phạm, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về nhà ở, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, phá dỡ nhà ở khi Nhà nước thu hồi đất, giải tỏa nhà ở, trưng mua, trưng dụng, mua trước nhà ở;
g) Có trách nhiệm để các bên có liên quan và người có thẩm quyền thực hiện việc kiểm tra, theo dõi, bảo trì hệ thống trang thiết bị, hệ thống hạ tầng kỹ thuật, phần diện tích thuộc sở hữu chung, sử dụng chung;
h) Thực hiện nghĩa vụ tài chính cho Nhà nước khi được công nhận quyền sở hữu nhà ở, khi thực hiện các giao dịch và trong quá trình sử dụng nhà ở theo quy định của pháp luật.
3. Người sử dụng nhà ở không phải là chủ sở hữu phải thực hiện các nghĩa vụ trong việc quản lý, sử dụng nhà ở theo thỏa thuận với chủ sở hữu nhà ở và theo quy định của Luật này."
Ngoài ra, việc bạn cho em gái ở cùng nhà đây là sự thỏa thuận mang tính tập quán - cho ở nhờ, pháp luật xác định đây là quyền của chủ sở hữu nhà chứ không có phạm vi mẫu văn bản cụ thể như thế nào. Việc lập biên bản về việc sống chung và các điều khoản trong đó do các bên tự thỏa thuận. Trong đó, để bảo vệ quyền lợi cho bạn hai bên phải thỏa thuận kỹ và thống nhất hoàn toàn về việc em gái bạn đưa một khoản tiền thay cho việc phải trả tiền nhà hàng tháng và dù sau này em gái bạn có chuyển địa điểm ở bạn cũng không phải hoàn trả lại số tiền này.
4. Tư vấn về hiệu lực của biên bản họp gia đình ?
Theo quy định tại Điều 116 Bộ luật dân sự năm 2015 thì biên bản họp gia đình sẽ là một giao dịch dân sự.
Điều 116. Giao dịch dân sựGiao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.
Điều 117. Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.2. Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định.
Điều 119. Hình thức giao dịch dân sự1. Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể.Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản.2. Trường hợp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký thì phải tuân theo quy định đó.
5. Làm thế nào để thực hiện được biên bản họp gia đình?
Trả lời:
Biên bản họp gia đình là văn bản ghi lại nội dung cuộc họp của hộ gia đình. Trong biên bản họp gia đình có ghi nhận về vấn đề tặng cho quyền sử dụng đất đối với đất nông nghiệp.
Theo quy định tại Điều 121 Bộ luật dân sự năm 2015 thì:
“Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.”
Trong trường hợp này, việc quyết định chia mảnh đất thành 5 phần bằng nhau do các thành viên trong gia đình bàn bạc,quyết định được coi là một giao dịch dân sự.
Theo quy định tại Điều 119 Bộ luật dân sự 2015 thì hình thức của giao dịch dân sự được quy định như sau:
Điều 119. Hình thức giao dịch dân sự1. Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể.Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản.2. Trường hợp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký thì phải tuân theo quy định đó.
Trong trường hợp này , việc họp gia đình của gia đình bạn đã được lập thành biên bản trong đó có ghi nhận nội dung chia mảnh đất thành 5 phần bằng nhau, đã được các thành viên trong gia đình nhất trí. Như vậy, việc tặng cho quyền sử dụng đất của ông bạn ở đây là một giao dịch dân sự và được thể hiện dưới dạng văn bản (biên bản họp gia đình). Biên bản họp gia đình ở đây có thể xem như hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất.
Như vậy, theo quy định của pháp luật về hình thức hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất pải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực thì hợp đồng đó mới có hiệu lực pháp luật. Trong trường hợp của bạn, biên bản họp gia đình của gia đình bạn chưa được công chứng tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Như vậy, về hình thức, biên bản họp gia đình của gia đình bạn chưa đáp ứng được các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất nói chung.
Hơn nữa, theo như thông tin mà bạn cung cấp thì hiện tại mảnh đất đã đứng tên em trai bạn. Theo quy định của Luật đất đai 2013, khi đất đang có tranh chấp thì không đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ( điều 100 Luật đất đai năm 2013). Việc cấp giấy chứng nhận khi đất còn đang tranh chấp là vi phạm quy định của pháp luật. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.