1. Bảo lưu quyền sở hữu là gì?

Đối tượng của hợp đồng mua bán có thể là bất động sản, động sản đăng ký quyền sở hữu và các tài sản khác. Đối với tài sản phải đăng ký quyền sở hữu thì người mua trở thành chủ sở hữu khi được đăng ký quyền sở hữu. Đối với các tài sản khác người mua có quyền sở hữu khi nhận tài sản. Tuy nhiên trường hợp mua bán trả chậm, trả dần, thì việc xác lập hoặc hạn chế quyền sở hữu do pháp luật quy định hoặc do các bên thỏa thuận. Thông thường trong hợp đồng mua bán trả chậm thì bên mua có quyền sở hữu tài sản khi trả hết tiền mua, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật quy định khác. Để bảo đảm cho việc thanh toán tiền mua trả chậm, pháp luật cho phép các bên thỏa thuận xác lập biện háo bảo lưu quyền sở hữu của bên bán đến khi bên mua trả hết tiền mua. Có nghĩa là bên bán chưa chấm dứt quyền sở hữu đối với tài sản, bên bán vẫn tồn tại một số quyền đối với người mua như quyền đòi lại tài sản kể cả trong trường hợp bên mua đã đăng ký quyền sử dụng như mua trả chậm xe ô tô, xe máy.

Điều 331 Bộ luật dân sự 2015 có quy định như sau:

Trong hợp đồng mua bán, quyền sở hữu tài sản có thể được bên bán bảo lưu cho đến khi nghĩa vụ thanh toán được thực hiện đầy đủ.

Quy định trên gián tiếp cho thấy, biện pháp bảo lưu quyền sở hữu chỉ có thể áp dụng đi kèm với hợp đồng mua bán tài sản. Trong khi đó, nếu chỉ xét về bản chất của tên gọi “bảo lưu quyền sở hữu”, có thể hình dung biện pháp này có thể áp dụng đi kèm với các giao dịch liên quan đến chuyển quyền sở hữu tài sản. Điều này có nghĩa là, đối với tất cả các giao dịch có liên quan đến việc chuyển quyền sở hữu tài sản thì các chủ thể đều có thể thực hiện quyền “bảo lưu quyền sở hữu” của mình.
Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn nhận ở góc độ này thì chưa đủ, bảo lưu quyền sở hữu được áp dụng có tính chất của một biện pháp bảo đảm, tức là cùng với dấu hiệu nhận biết là áp dụng với các giao dịch mà trong đó có động tác chuyển quyền sở hữu tài sản còn cần thêm dấu hiệu là các giao dịch này phải làm phát sinh nghĩa vụ của bên được chuyển giao quyền sở hữu. Tức là nó được hình thành trên cơ sở các hợp đồng song vụ. Với các phân tích trên, hợp đồng mua bán chỉ là loại điển hình của hợp đồng song vụ có chuyển giao quyền sở hữu tài sản. Bên cạnh đó, hợp đồng trao đổi tài sản theo quy định tại Điều 455 Bộ luật dân sự năm 2015 cũng có những tính chất như đã phân tích trên đây. Nếu áp dụng đúng quy định tại Điều 331 Bộ luật dân sự năm 2015, bảo lưu quyền sở hữu không được phép áp dụng đối với hợp đồng trao đổi tài sản. Tuy nhiên, khoản 4 Điều 455 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:
“Mỗi bên đều được coi là người bán đối với tài sản giao cho bên kia và là người mua đối với tài sản nhận về. Các quy định về hợp đồng mua bán từ Điều 430 đến Điều 439, từ Điều 441 đến Điều 449 và Điều 454 của Bộ luật này cũng được áp dụng đối với hợp đồng trao đổi tài sản”.
Như vậy, theo các quy định nêu trên, bảo lưu quyền sở hữu tài sản được áp dụng cả đối với hợp đồng trao đổi tài sản.

2. Hình thức của bảo lưu quyền sở hữu

Theo khoản 2 Điều 331 Bộ luật dân sự 2015:

...

2. Bảo lưu quyền sở hữu phải được lập thành văn bản riêng hoặc được ghi trong hợp đồng mua bán.

3. Bảo lưu quyền sở hữu phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm đăng ký.

Hợp đồng mua bán là hợp đồng chuyển quyền sở hữu tài sản nhưng mua trả chậm thì quyền sở hữu chưa xác lập đổi với người mua, tuy nhiên khi đã nhận tài sản để sử dụng thì người mua có thể bán, cho tặng, đổi cho người khác và không thực hiện nghĩa vụ trả tiền cho bên bán. Để bảo vệ quyền lợi của bên bán, thì các bên cần phải ghi rõ trong hợp đồng mua bán hoặc xác lập hợp đồng riêng về bảo lưu quyền sở hữu và đăng ký biện pháp bảo lưu quyền sở hữu.

Việc yêu cầu xác lập bằng văn bản đối với biện pháp bảo lưu quyền sở hữu là một yêu cầu hợp lý. Bởi lẽ, cần có bằng chứng xác thực cho một hành vi đặc biệt của bên có nghĩa vụ chuyển giao quyền sở hữu tài sản trong việc không thực hiện nghĩa vụ này. Trên thực tiễn, yêu cầu này sẽ dẫn đến những trường hợp sau:

>> Xem thêm:  Mẫu hợp đồng thuê nhà thuộc sở hữu nhà nước mới nhất năm 2021

Thứ nhất, hoàn toàn không có vấn đề gì nếu theo quy định của pháp luật hợp đồng mua bán hay hợp đồng trao đổi tài sản phải lập thành văn bản, khi đó điều khoản bảo lưu quyền sở hữu được ghi vào văn bản - hợp đồng mua bán.

Thứ hai, trong trường hợp hợp đồng mua bán không buộc phải xác lập bằng văn bản, khi đó các bên sẽ có hai lựa chọn: Một là, xác lập hợp đồng mua bán bằng văn bản (mặc dù luật không yêu cầu) và tương ứng với hợp đồng này là điều khoản hay hợp đồng bảo lưu quyền sở hữu; hai là, chấp nhận tình trạng hợp đồng mua bán lập bằng miệng nhưng hợp đồng (hay điều khoản) bảo lưu quyền sở hữu lại xác lập bằng văn bản.

Biện pháp bảo lưu quyền sở hữu phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm đăng ký. Trường hợp bên mua định đoạt tài sản mà không trả hết tiền mua thì người bán có quyền yêu cầu người thứ ba giao tài sản để xử lý theo thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định.

3. Trong quan hệ bảo lưu quyền sở hữu, bên mua tài sản có quyền và nghĩa vụ gì?

Theo Điều 333 Bộ luật dân sự 2015:

Điều 333. Quyền và nghĩa vụ của bên mua tài sản

1. Sử dụng tài sản và hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản trong thời hạn bảo lưu quyền sở hữu có hiệu lực.

2. Chịu rủi ro về tài sản trong thời hạn bảo lưu quyền sở hữu, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Trong thời hạn mua bán trả chậm, trả dần, bên mua có quyền khai thác, sử dụng tài sản như chủ sở hữu. Trên thực tế tài sản mua đã thuộc về người mua, cho nên họ có quyền sử dụng tài sản theo ý chí của mình mà không phụ thuộc vào người bán. Vì thế bên mua phải chịu rủi ro khi tài sản mất mát, hư hỏng và vẫn phải trả hết số tiền mua chưa thanh toán.

Ví dụ: B mua một chiếc máy tính tại cửa hàng FPT theo phương thức trả góp hàng tháng, thời hạn trả góp là 1 năm. Các bên thỏa thuận điều khoản bảo lưu quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán tài sản.

Dù chưa phải là chủ sở hữu của chiếc máy tính nhưng trong thời hạn 1 năm này B vẫn có quyền sử dụng chiếc máy tính, khai thác công dụng của chiếc máy tính.

4. Bên bán có quyền gì khi bên mua vi phạm nghĩa vụ thanh toán?

Trong quan hệ bảo lưu quyền sở hữu thì quyền của bên bán được thể hiện qua quy định tại Điều 332 Bộ luật dân sự 2015:

>> Xem thêm:  Tội xâm phạm sở hữu là gì ? Các tội thuộc nhóm tội xâm phạm sở hữu

Điều 332. Quyền đòi lại tài sản

Trường hợp bên mua không hoàn thành nghĩa vụ thanh toán cho bên bán theo thỏa thuận thì bên bán có quyền đòi lại tài sản. Bên bán hoàn trả cho bên mua số tiền bên mua đã thanh toán sau khi trừ giá trị hao mòn tài sản do sử dụng. Trường hợp bên mua làm mất, hư hỏng tài sản thì bên bán có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Như vật, trường hợp bên mua không trả số tiền chưa trả, thì bên bán có quyền yêu cầu bên mua thanh toán. Nếu thời hạn trả chậm, trả dần đã hết mà bên mua cố tình không trả hết tiền mua, thì bên bán có quyền đòi lại tài sản. Bên bán trả cho bên mua số tiền đã thanh toàn sau khi khấu trừ hao mòn do bên mua đã sử dụng. Trường hợp bên mua làm hư hỏng, mất tài sản thì phải bồi thường thiệt hại và số tiền đã thanh toán được bù trừ vào tiền bồi thường thiệt hại.

Ví dụ: Ngày 26/10/2017 vợ chồng ông Th, bà Đ có mua trả góp của Công ty X 01 xe máy hiệu Honda SH Mode (màu trắng nâu), biển số 68X1-03139, theo hợp đồng mua xe trả góp ngày 26/10/2017, với giá trị là 25.000.000 đồng. Theo nội dung hợp đồng hai bên thỏa thuận thời hạn trả góp là 12 tháng, tức đến ngày 26/10/2018 là hết hạn hợp đồng, hàng tháng ông Th, bà Đ có trách nhiệm trả góp cho Công ty X tiền gốc và lãi vào ngày 26 tây hàng tháng, số tiền gốc mỗi tháng là 2.083.000 đồng. Công ty X sẽ bảo lưu quyền sở hữu của chiếc xe cho đến khi ông Th và bà Đ thanh toán hết số tiền trên.

Quá trình thực hiện hợp đồng vào ngày 24/12/2017 ông Th, bà Đ thanh toán được số tiền gốc là 4.166.000 đồng rồi ngưng thanh toán. Công ty đã liên hệ nhiều lần nhưng ông Th và bà Đ không thực hiện nghĩa vụ thanh toán.

Như vậy, trong trường hợp này Công ty X có quyền đòi lại chiến xe máy, trả lại số tiền là ông Th và bà Đ đã thanh toán trước đó sau khi trừ đi giá trị hao mòn của chiếc xe.

5. Bảo lưu quyền sở hữu chấm dứt khi nào?

Các trường hợp chấm dứt biện pháp bảo lữu quyền sở hữu được quy định cụ thể tại Điều 334 Bộ luật dân sự 2015:

Điều 334. Chấm dứt bảo lưu quyền sở hữu

Bảo lưu quyền sở hữu chấm dứt trong trường hợp sau đây:

1. Nghĩa vụ thanh toán cho bên bán được thực hiện xong.

2. Bên bán nhận lại tài sản bảo lưu quyền sở hữu.

3. Theo thỏa thuận của các bên.

Thông thường khi bên mua thanh toán đầy đủ tiền mua thì có quyền sở hữu đối với tài sản mua, cho nên bảo lưu quyền sở hữu sẽ chấm dứt.

Trường hợp bên mua không thể hoặc cố tình không thanh toán hết tiền mua còn lại, thì bên bán sẽ đòi lại tài sản và biện pháp bảo lưu quyền sở hữu cũng chấm dứt.

Bảo lưu quyền sở hữu chấm dứt nếu các bên thỏa thuận chấm dứt nghĩa vụ trả tiền của bên mua. Trường hợp này bên bán xóa nợ số tiền chưa thanh toán cho bên mua, cho phép bên mua có quyền sở hữu đầy đủ đối với với tài sản.

>> Xem thêm:  Bảo lưu điều ước quốc tế là gì ? Việt Nam quy định như thế nào về Bảo lưu điều ước quốc tế ?

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua Email : Tư vấn pháp luật qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Mẫu giấy ủy quyền tham gia đấu giá tài sản, đất đai mới 2021

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Thế nào là bảo lãnh theo quy định của pháp luật?

Trả lời:

Điều 335 Bộ luật dân sự 2015:

Bảo lãnh là việc người thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.

Câu hỏi: Bên bảo lãnh có được hưởng thù lao không?

Trả lời:

Điều 337 Bộ luật dân sự 2015:

Bên bảo lãnh được hưởng thù lao nếu bên bảo lãnh và bên được bảo lãnh có thỏa thuận.

Câu hỏi: Quy định về phạm vi bảo lãnh?

Trả lời:

Điều 336 Bộ luật dân sự 2015 quy định về phạm vi bảo lãnh như sau:

1. Bên bảo lãnh có thể cam kết bảo lãnh một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ cho bên được bảo lãnh.

2. Nghĩa vụ bảo lãnh bao gồm cả tiền lãi trên nợ gốc, tiền phạt, tiền bồi thường thiệt hại, lãi trên số tiền chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

3. Các bên có thể thỏa thuận sử dụng biện pháp bảo đảm bằng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.

4. Trường hợp nghĩa vụ được bảo lãnh là nghĩa vụ phát sinh trong tương lai thì phạm vi bảo lãnh không bao gồm nghĩa vụ phát sinh sau khi người bảo lãnh chết hoặc pháp nhân bảo lãnh chấm dứt tồn tại.