1. Khái niệm về Tội phạm và Phòng ngừa tội phạm?

Tại Điều 8, Bộ luật hình sự năm 2015 quy định:

"Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự."

Về phòng ngừa tội phạm: "Phòng ngừa tội phạm là hoạt động có tính chủ động và tổng hợp của Nhà nước, của xã hội và của mọi công dân hướng tới việc hạn chế, ngăn ngừa sự hình thành các thành tố tạo thành nguyên nhân của tội phạm hoặc làm cho các thành tố này không phát huy được tác dụng để loại trừ dần nguyên nhân của tội phạm, ngăn ngừa tội phạm xảy ra."

Phòng ngừa tội phạm là nội dung nghiên cứu quan trọng của tội phạm học, đã được dùng thống nhất trong hầu hết các công trình nghiên cứu về tội phạm học ở Việt Nam, từ các giáo trình đại học đến các sách chuyên khảo và tham khảo. Nó khác với khái niệm chống tội phạm cũng không phải là kiểm soát tội phạm vì chống tội phạm và kiểm soát tội phạm cũng có mục đích phòng ngừa tội phạm và trong phạm vi nhất định, hoạt động cụ thể của chống tội phạm hay kiểm soát tội phạm cũng là hoạt động phòng ngừa tội phạm hay nói cách khác: Phongf ngừa tội phạm bao gồm cả hoạt động chống tội phạm và kiểm soát tội phạm.

>> Xem thêm: Phòng ngừa tội phạm là gì? Mục đích, nội dung, phân loại các biện pháp phòng ngừa tội phạm

 

2. Biện pháp phòng ngừa tội phạm là gì?

Biện pháp phòng ngừa tội phạm là hệ thống các biện pháp, cách thức do các cơ quan chức năng có thẩm quyền, các tổ chức xã hội và công dân thực hiện nhằm hạn chế, ngăn chặn, loại trừ nguyên nhân, điều kiện phạm tội.

Trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, biện pháp phòng ngừa được thực hiện bằng phòng ngừa xã hội và phòng ngừa nghiệp vụ.

Biện pháp phòng ngừa xã hội gồm các biện pháp quần chúng, biện pháp giáo dục và có thể cả biện pháp hành chính: 1) Biện pháp quần chúng là một trong những biện pháp cơ bản nhất của các cơ quan quản lí nhà nước nói chung và của lực lượng công an nhân dân nói riêng áp dụng trong đấu tranh phòng chống tội phạm, nhằm sử dụng sức mạnh to lớn của nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ an ninh trật tự. Biện pháp quần chúng được thực hiện thông qua việc truyên truyền, giáo dục, vận động công khai và bí mật, vận động rộng rãi và cá biệt để phát huy tính tự giác của quần chúng thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Nội dung của biện pháp quần chúng gồm điều tra nghiên cứu tình hình, tuyên truyền giáo dục, tổ chức hướng dẫn quần chúng tham gia công khai và bí mật vào các hoạt động bảo vệ an ninh, trật tự, 2) Biện pháp giáo dục là biện pháp được thực hiện nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tính thần, ý thức của một người hoặc một số người nào đó nhằm làm cho họ có những phẩm chất và năng lực theo yêu cầu đã định. Trong lĩnh vực đấu tranh phòng, chống tội phạm, Luật hình sự Việt Nam và Luật tố tụng hình sự Việt Nam luôn coi trọng các biện pháp giáo dục đối với người có hành vi vi phạm pháp luật; 3) Biện pháp hành chính là một trong những biện pháp cơ bản nhất của các cơ quan quản lí nhà nước nói chung và lực lượng công an nhân dân trong đấu tranh phòng, chống tội phạm. Biện pháp này được thực hiện bằng cách sử dụng những quy định của pháp luật về trật tự xã hội để quản lí xã hội nhằm phòng ngừa, phát hiện và ngăn chặn các hành vi xâm hại an ninh, trật tự, bảo đảm cuộc sống yên vui, hạnh phúc của nhân dân.

Biện pháp phòng ngừa nghiệp vụ là hệ thống biện pháp công tác riêng của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nói chung trong một lĩnh vực chuyên môn cụ thể. Đối với các cơ quan bảo vệ pháp luật, trong đó có lực lượng công an nhân dân, biện pháp nghiệp vụ được sử dụng trong quá trình đấu tranh phòng ngừa và chống các âm mưu và hành động của các thế lực thù địch, các phần tử chống đối cách mạng và các loại tội phạm khác, bảo vệ an ninh, trật tự như biện pháp trinh sát, biện pháp vũ trang...

Biện pháp áp dụng để thi hành bản án, quyết định dân sự. Viêc thi hành bản án, quyết định dân sự được tiến hành bằng biện pháp giáo dục, thuyết phục để người phải thi hành án tự nguyện thi hành án và cưỡng chế thi hành án.

Khi bản án, quyết định dân sự được thí hành thì người phải thi hành án có nghĩa vụ thi hành. Cơ quan thi hành án tiến hành giáo dục, thuyết phục và định cho người phải thi hành án một thời hạn không quá 30 ngày, kể từ ngày có quyết định thi hành án để họ tự nguyện thi hành án. Sau khi hết thời hạn tự nguyện thi hành án, nếu người phải thi hành án không tự nguyện thi hành thì cơ quan thi hành án áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án (Điều 6, Điều 7 Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004).

 

3. Các biện pháp phòng ngừa tội phạm?

Xét về tính chất tác động của biện pháp phòng ngừa tội phạm có thể phân loại các biện pháp phòng ngừa tội phạm thành 2 nhóm sau:

 

3.1. Biện pháp phòng ngừa tội phạm cơ bản - gián tiếp

Các biện pháp phòng ngừa tội phạm cơ bản - gián tiếp là các biện pháp tuy hướng tới các nguyên nhân “gốc rễ” của tội phạm nói chung nhưng đó không phải là mục đích trực tiếp. Đây là các biện pháp nhằm tới mục đích trực tiếp là các vấn đề kinh tế-xã hội nhưng gián tiếp lại là các biện pháp bao trùm, có ý nghĩa đối với tất cả các tội phạm, đối với tất cả mọi người và có tính triệt để, giải quyết tận gốc vấn đề nguyên nhân của tội phạm. Các biện pháp này là các biện pháp có tính lâu dài, có tác dụng dần dần từng bước. Thuộc về các biện pháp này phải kể đến trước hết là các biện pháp phát triển kinh tế, ổn định xã hội, khắc phục những hạn chế, cải thiện tình hình kinh tế-xã hội như vấn đề thất nghiệp hay thất học, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của các tầng lóp dân cư; các biện pháp lành mạnh hoá các môi trường giáo dục, nâng cao trình độ vãn hoá, ý thức tôn trọng pháp luật và trách nhiệm của công dân; các biện pháp nâng cao “tính giáo dục” của pháp luật, trong đó có pháp luật hình sự ...

Các biện pháp phòng ngừa tội phạm cơ bản - gián tiếp tuy không tác động trực tiếp, tức thời đến nguyên nhân của tội phạm nhưng được coi là các biện pháp có tính chủ động, tích cực theo đúng nghĩa nhất và cũng là các biện pháp giải quyết vấn đề nguyên nhân của tội phạm một cách bền vững.

 

3.2. Biện pháp phòng ngừa tội phạm thứ cấp - trực tiếp

Các biện pháp phòng ngừa tội phạm thứ cấp - trực tiếp là các biện pháp hướng tới các “nguy cơ phạm tội” cụ thể, tác động đến các thành tố tạo thành nguyên nhân của tội phạm với nội dung cụ thế và trực tiếp là hạn chế, triệt tiêu hoặc “trung hoà” các thành tố này. Thuộc về các biện pháp phòng ngừa này trước hết là các biện pháp tăng hiệu quả của quản lý hành chính nhà nước trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội như lĩnh vực kinh tế- xã hội, lĩnh vực an ninh, quôc phòng, lĩnh vực văn hoá, trật tự, an toàn xã hội ... Ngoài ra, các biện pháp phòng ngừa này còn có thể là các biện pháp tăng cường giám sát, quản lý các đối tượng có nguy cơ phạm tội hay phạm tội lại; là các biện pháp cảnh báo, hướng dẫn tránh trở thành nạn nhân của tội phạm như tội phạm về tình dục hay tội mua bán người ...

Căn cứ vào mục đích cụ thể, đối tượng hướng tới và phạm vi ảnh hưởng có thể chia các biện pháp phòng ngừa tội phạm thứ cấp - trực tiếp thành: Nhóm biện pháp phòng ngừa tội phạm đối với người phạm tội đã bị phát hiện; nhóm biện pháp phòng ngừa tội phạm đối với nhóm người có nguy cơ phạm tội; nhóm biện pháp phòng ngừa có tính cảnh báo đối với nhóm chủ thể (cá nhân hoặc đơn vị) có nguy cơ trở thành nạn nhân của tội phạm và nhỏm biện pháp phòng ngừa cụ thể do chính những chủ thể này thực hiện tự giác hoặc tự phát.

Thuộc về nhóm biện pháp phòng ngừa tội phạm đối với người phạm tội bao gồm không chỉ các biện pháp trách nhiệm hình sự được áp dụng cho người bị kết án mà theo nghĩa rộng còn bao gồm cả các biện pháp nhằm phát hiện, xử lý kịp thời tội phạm (Theo hướng phòng ngừa tội phạm này thì giữa biện pháp chống tội phạm và biện pháp phòng ngừa tội phạm có sự đồng nhất nhưng chưa thật đây đủ và cũng chưa được chú trọng đúng mực trong việc theo dõi, giám sát việc chấp hành các hình phạt này.). Các biện pháp này không chỉ nhằm ngăn chặn kịp thời không cho người phạm tội tiếp tục phạm tội mà còn nhằm răn đe, giáo dục họ cũng như nhằm hạn chế khả năng, điều kiện mà người phạm tội có thể sử dụng để phạm tội lại. Để đáp ứng được điều này đòi hỏi các biện pháp hình sự .cần được mở rộng, không được phép chỉ bó hẹp là hệ thống các hình phạt truyền thống với mục đích thiên về trừng trị. Trừng trị cũng như qua trừng trị để răn đe, giáo dục là cần thiết và là một hướng phòng ngừa tội phạm nhưng bên cạnh đó cũng cần có những biện pháp hình sự khác, có thể là hình phạt hoặc chỉ là biện pháp hỗ trợ mà những biện pháp này có tác dụng trực tiếp là góp phần phòng ngừa việc phạm tội lại của người bị kết án như quản chế; cấm cư trú; cấm hành nghề; cấm điều khiển phương tiện giao thông cơ giới ... Trong Bộ luật hình sự Việt Nam đã có một số hình phạt có mục đích trực tiếp là phòng ngừa.

 

4. Mục đích của Phòng ngừa tội phạm?

Phòng ngừa tội phạm nhằm mục đích kìm chế sự gia tăng, hạn chế dần mức độ và tính chất nghiêm trọng của tội phạm và ngăn ngừa tội phạm xảy ra. Theo đó, mục đích của phòng ngừa tội phạm có các mức độ khác nhau từ kìm chế sự gia tăng của tội phạm, hạn chế dần mức độ và tính chất nghiêm trọng của tội phạm đến ngăn ngừa tội phạm xảy ra.

Để có thể đạt được mục đích này đòi hỏi phải đưa ra được hệ thống các biện pháp phòng ngừa phù hợp với thực trạng và diễn biến của tội phạm và có tính khả thi cũng như phải tể chức triển khai thực hiện được các biện pháp phòng ngừa này một cách đồng bộ và hợp lý.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)