- 1. Khái niệm phòng ngừa tội phạm thông qua sự phát triển xã hội
- 2. Các học thuyết làm cơ sở, tạo tiền đề cho chiến lược phòng ngừa tội phạm thông qua sự phát triển xã hội
- 2.1. Thuyết bắt chước của “Gabriel Tarde”
- 2.2. Thuyết về “nhóm khác biệt” của Edwin Sutherland
- 2.3. Thuyết quy ước xã hội của Travis Hirschi
- 3. Pháp luật hiện hành về biện pháp phòng ngừa tội phạm thông qua sự phát triển xã hội
- 4. Một số biện pháp phòng ngừa tội phạm
1. Khái niệm phòng ngừa tội phạm thông qua sự phát triển xã hội
Phòng ngừa tội phạm là hoạt động của tất cả các cơ quan bảo vệ pháp luật và Tòa án, các cơ quan Nhà nước và tổ chức xã hội và của mọi công dân trong xã hội áp dụng tổng hợp và đồng bộ các biện pháp khác nhau hướng vào thủ tiêu những nguyên nhân và điều kiện phạm tội, cũng như loại bỏ các yếu tố tiêu cực ảnh hưởng đến quá trình hình thành phẩm chất cá nhân tiêu cực, đồng thời từng bước hạn chế, đẩy lùi và tiến tới loại bỏ tội phạm ra khỏi đời sống xã hội.
Từ khái niệm trên, ta có thể hiểu như sau về khái niệm phòng ngừa tội phạm thông qua sự phát triển xã hội là: Phòng ngừa tội phạm, xét về mặt ngôn ngữ được hiểu là hoạt động nhằm không cho tội phạm xảy ra. Như vậy, phòng ngừa tội phạm không phải là hoạt động hướng tới tội phạm đã xảy ra mà là nhằm không cho tội phạm xảy ra. Để thực hiện được mục đích này đòi hỏi hoạt động phòng ngừa tội phạm phải loại trừ dần nguyên nhân của tội phạm thông qua việc chủ động tác động đến các thành tố hợp thành nguyên nhân đó theo hướng giảm thiểu, triệt tiêu các thành tố này hoặc hạn chế tác dụng của nó. Hoạt động này không thể là hoạt động đơn lẻ mà đòi hỏi phải là hoạt động có tính tổng hợp của Nhà nước, của cả xã hội và mọi công dân các biện pháp chung và riêng ngăn ngừa những hiện tượng có ảnh hưởng bất lợi và không đúng tới việc hình thành nên các phẩm chất tiêu cực chống đối xã hội, đặc biệt là với trẻ em và thanh thiếu niên.
2. Các học thuyết làm cơ sở, tạo tiền đề cho chiến lược phòng ngừa tội phạm thông qua sự phát triển xã hội
2.1. Thuyết bắt chước của “Gabriel Tarde”
Học thuyết này cho rằng, những hành vi phạm tội đều là do bắt nguồn từ môi trường sống không tốt, bắt chước những hành vi, thói quen lệch chuẩn của xã hội.
Học thuyết này nhấn mạnh những hành vi phạm tội đều bắt nguồn từ việc quan sát, học hỏi và bắt chước những hành vi phạm tội của người khác. Khi một người sống trong một môi trường phạm tội thì nhiều khả năng người đó rất dễ lây nhiễm các thói quen, hành vi phạm tội do tính bắt chước.
Trẻ em và thanh thiếu niên là những đối tượng dễ bị ảnh hưởng nhất do trong độ tuổi này nhận thức chưa vững vàng mà phải sống trong một môi trường không an toàn, đầy rẫy tội phạm khiến chúng rất dễ trở thành tội phạm.
Bởi vậy, để giảm thiểu tình trạng này, cần có những tác động trực tiếp và gián tiếp vào môi trường sống của trẻ và nhận thức, tâm lý của trẻ. Giáo dục cho trẻ cách nhận biết thế nào là những hành vi tốt, hành vi xấu, dạy chúng tránh xa những hành vi xấu, đồng thời hướng dẫn xử lý mọi vấn đề theo hướng tích cực. Xây dựng một môi trường sống, một môi trường giáo dục tốt cung cấp cho trẻ những nhận thức tích cực, khả năng điều khiển hành vi của mình, kiềm chế cơn nóng giận, những kỹ năng sống để giúp cho trẻ thoát khỏi, tránh xa những tình huống xã hội tiêu cực.
2.2. Thuyết về “nhóm khác biệt” của Edwin Sutherland
Học thuyết này cho rằng những người phạm tội đã học việc phạm tội thông qua “nhóm khác biệt” qua quá trình tiếp xúc, giao tiếp với những người khác và những người này có ảnh hưởng nhất định đối với việc gây ra tội phạm.
“Nhóm khác biệt” là nhóm người có những hành vi trái xã hội, có những hành vi lệch chuẩn với xã hội, họ thường xuyên vi phạm pháp luật và “coi như” là bị cô lập trong xã hội bởi cộng đồng những người tuân thủ pháp luật.
Trẻ em khi sống trong một “nhóm khác biệt” với nhận thức chưa vững vàng và với tâm lý hay tìm tòi, học hỏi rất dễ học lại những kỹ năng thực hiện tội phạm và có nguy cơ trở thành tội phạm.
Bởi vậy, để tránh tình trạng này, cần xây dựng những chiến lược nuôi dưỡng, chăm sóc và đưa chúng tới một môi trường an toàn, tích cực hơn, tránh xa tội phạm. Cha mẹ, người thân của những đứa trẻ ấy cần phải hiểu biết về pháp luật, tránh những hành vi xấu, không lệch chuẩn, cải thiện giáo dục pháp luật trong nhà trường. Từ đó, trẻ sẽ không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố tiêu cực trong xã hội mà phát triển một cách lành mạnh, bình thường.
2.3. Thuyết quy ước xã hội của Travis Hirschi
Học thuyết này cho rằng trong xã hội có tồn tại mối quan hệ giữa cá nhân với quy ước xã hội. Một khi cá nhân tuân thủ tốt các quy ước xã hội sẽ giảm thiểu sự lệch hướng ra khỏi quy ước đó và giảm thiểu hành vi phạm tội.
Mối quan hệ giữa cá nhân với quy ước xã hội được giới hạn trong 4 điểm sau:
- Sự gắn bó: Sự gắn bó biểu hiện sự chia sẻ quyền lợi của cá nhân với người khác trong xã hội. Sự gắn bó giữa cá nhân và cộng đồng càng mật thiết thì việc thu nhận các quy tắc xã hội của cá nhân càng hiệu quả. Ở đây là sự gắn bó với các thiết chế xã hội như gia đình, trường học, cộng đồng…
- Sự cam kết: Tự nguyện vào các giá trị xã hội như đầu tư vào giáo dục, sự nghiệp,… hay bất kỳ cái gì đó trong xã hội. Nếu họ có được sự cam kết như vậy thì ít khi họ đi chệch khỏi những mục tiêu đó, và họ ít đi chệch khỏi những quy tắc của xã hội.
- Sự ràng buộc: Cá nhân tham gia vào các tổ chức trong xã hội, thiết chế trong xã hội. Khi họ có sự ràng buộc như vậy thì chắc chắn hiện tượng lệch lạc cũng như tội phạm ít xảy ra.
- ín ngưỡng: Ở đây là các chuẩn mực, giá trị, đạo đức trong xã hội. Theo học thuyết, nếu tín ngưỡng lành mạnh thì hành vi lệch lạc ít xảy ra.
Nếu bất kỳ cá nhân nào hội tụ đủ 4 đặc điểm này trong quan hệ với quy ước xã hội, tất cả các đặc điểm này đều móc xích vào nhau hướng tới một xã hội cực kỳ tích cực và nguy cơ tội phạm sẽ được hạn chế.
Bởi vậy, học thuyết này thúc đẩy sự kiểm soát bản thân của những người có khả năng phạm tội để họ có chịu trách nhiệm vào bản thân mình không đi lệch khỏi những chuẩn mực của xã hội, từ đó hình thành một xã hội lành mạnh, ít xảy ra tội phạm.
3. Pháp luật hiện hành về biện pháp phòng ngừa tội phạm thông qua sự phát triển xã hội
Biện pháp phòng ngừa tội phạm thông qua sự phát triển xã hội bản chất là hướng tới phòng ngừa tội phạm ở trẻ em, thanh thiếu niên trong xã hội. Pháp luật hiện hành hiện nay đã có những quy định về việc giáo dục, phòng ngừa tội phạm ở trẻ em, thanh thiếu niên. Điển hình như BLHS2015, các điều tại chương XII những quy định riêng dành cho người dưới 18 tuổi phạm tội. Cũng theo nguyên tắc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội quy định tại điều 91 BLHS2015, việc xử lí người dưới 18 tuổi phạm tội phải đảm bảo lợi ích tốt nhất cho người dưới 18 tuổi phạm tội và chủ yếu nhắm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội. Các biện pháp giám sát, giáo dục áp dụng trong trường hợp được miễn TNHS (mục 2 các điều 92 – 95) và biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng ( mục 3 các điều 96 – 97). Có thể thấy rằng, nhà nước đã coi trọng công tác phòng ngừa, lấy công tác giáo dục là thiết yếu. Dưới góc nhìn Tội phạm học, việc áp dụng “biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn” và áp dụng “các biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng” chính là dựa vào các học “thuyết bắc chước của Gabriel Tarde”, “thuyết về nhóm khác biệt của Edwin Sutherland” và “thuyết quy ước xã hội của Travis Hirschi” để thấy được rằng việc giáo dục là vô cùng quan trọng trong công tác phòng chống tội phạm cùng với đó là tạo một môi trường sống lành mạnh, từ đó nhà nước ta đã ban hành các điều luật trên nhằm phòng ngừa, giảm khả năng phạm tội, đồng thời không để tội phạm xảy ra. Một khi đã xảy ra thì cần phải điều tra, xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội sao cho đúng pháp luật nhưng vẫn giúp họ nhận thức và sửa sai để trở thành công dân có ích cho xã hội.
Theo góc nhìn Tội phạm học, hoàn cảnh của Khánh đều giống như trong quan điểm của học “thuyết bắt chước của Gabriel Tarde”, Khánh đã sống trong một môi trường không hề lành mạnh chút nào cả từ nhà đến trường học, điều này chắc chắn ít nhiều ảnh hưởng tiêu cực đến nhận thức, góc nhìn của em đối với xã hội. Khánh còn đang trong độ tuổi dậy thì, tâm lý, tính cách cũng chưa được vững vàng, chín chắn, vì muốn chứng tỏ bản thân nên Khánh đã thực hiện tội phạm, gây ra một vụ án đáng thương tâm như vậy. Trong những trường hợp tương tự như của Khánh, chúng ta có thể áp dụng chiến lược phòng ngừa tội phạm dựa trên sự phát triển xã hội bằng cách tác động vào môi trường sống, những người xung quanh và các yếu tố khác. Có thể hướng dẫn bố em của em những kỹ năng cần thiết để giáo dục con mình, xây dựng một môi trường gia đình tốt bằng cách bỏ nghề đòi nợ thuê, bố mẹ làm gương cho con trở thành một phụ huynh mẫu mực giáo dục cho em những cách cư xử đúng chuẩn mực xã hội, cách kìm chế cơn nóng giận, giải quyết xung đột bằng lời lẽ và gia đình nên kết hợp với nhà trường tạo cho em một môi trường học tập tốt hơn, có những người bạn học tốt. Có như vậy thì Khánh mới có thể thay đổi nhận thức của bản thân mình, không tái phạm hành vi phạm tội nữa và sau này trở thành công dân có ích cho xã hội.
4. Một số biện pháp phòng ngừa tội phạm
Một là, tăng cường công tác phòng ngừa, ngăn chặn của các cơ quan chức năng, đồng thời gia đình cần quan tâm giáo dục đạo đức, nhân cách, trang bị kỹ năng sống, tự hòa giải, kiến thức cơ bản về pháp luật phù hợp lứa tuổi, tâm sinh lý của con em trong gia đình, chú trọng quản lý, giám sát, nhất là thời gian, mức độ sử dụng mạng internet, mạng xã hội, kịp thời uốn nắn những hành vi lệch chuẩn, không để con em vi phạm pháp luật, tệ nạn xã hội.
Hai là, đối với nhà trường, cần nâng cao vai trò, trách nhiệm của các thầy, cô giáo trong chăm sóc học sinh; tăng cường giáo dục pháp luật, đạo đức, lối sống, phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường và gia đình trong quản lý, giáo dục học sinh, nhất là số học sinh thường xuyên bỏ học, thường xuyên vi phạm nội quy, có biểu hiện vi phạm pháp luật.
Ba là, làm tốt công tác nắm hộ, nắm người; quan tâm đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục pháp luật với nội dung, hình thức phù hợp với tâm sinh lý, nhận thức từng lứa tuổi, địa bàn, quan tâm vùng đồng bào dân tộc thiểu số, góp phần phòng ngừa, ngăn chặn hiệu quả người chưa thành niên phạm tội.
>> Xem thêm: Phòng ngừa tội phạm là gì? Mục đích, nội dung, phân loại các biện pháp phòng ngừa tội phạm