- 1. Quy định về hợp đồng cho vay
- 1.1 Khái quát về hợp đồng cho vay và mức lãi suất
- 1.2 Hình thức của hợp đồng vay tiền
- 2. Bình luận tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự hay nhất
- 2.1 Khái quát về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- 2.2 Yếu tố cấu thành tội
- 3. Mức hình phạt của hành vi cho vay lãi nặng
- 4. Xử lý trong một số trường hợp cụ thể
- 5. Xử lý hành chính hành vi cho vay lãi cao
1. Quy định về hợp đồng cho vay
1.1 Khái quát về hợp đồng cho vay và mức lãi suất
Hợp đồng vay tiền (hợp đồng vay tài sản) là một giao dịch dân sự và được điều chỉnh bởi pháp luật dân sự. Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định; Mặc dù lãi suất là do các bên tự thỏa thuận nhưng pháp luật dân sự có quy định về giới hạn lãi suất được thỏa thuận. Cụ thể là căn cứ theo điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì mức lãi suất được quy định như sau:
Lãi suất vay do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.
=> Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.
Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn trên (tức là 10%) tại thời điểm trả nợ.
1.2 Hình thức của hợp đồng vay tiền
Hợp đồng vay tiền có bản chất là một giao dịch dân sự nên cũng có hình thức như giao dịch dân sự. Được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể.
Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản. Trường hợp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký thì phải tuân theo quy định đó. Như vậy thì hợp đồng cho vay tiền không bắt buộc phải lập thành văn bản mới có hiệu lực
2. Bình luận tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự hay nhất
2.1 Khái quát về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự được quy định tại Điều 201 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017, cụ thể như sau:
Điều 201. Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.2. Phạm tội thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Cho vay lãi nặng là trường hợp bên cho vay cho bên vay vay tiền với mức lãi suất gấp 05 lần trở lên mức lãi suất cao nhất quy định tại Khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015. Trường hợp cho vay bằng tài sản khác (không phải là tiền) thì khi giải quyết phải quy đổi giá trị tài sản đó thành tiền tại thời điểm chuyển giao tài sản vay. Thu lợi bất chính là số tiền lãi vượt quá mức lãi suất vay cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự và các khoản thu trái pháp luật khác của người vay. Trường hợp thu lợi bất chính là tài sản khác (không phải là tiền) thì phải được quy đổi thành tiền tại thời điểm chuyển giao tài sản vay.
2.2 Yếu tố cấu thành tội
Mặt chủ thể: Chủ thể của tội cho vay nặng lãi trong giao dịch dân sự là người đủ từ 16 tuổi và có năng lực trách nhiệm hình sự. Trong trường hợp lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong quản lý công quỹ và dùng công quỹ cho vay nặng lãi mang tính chất bóc lột thì vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
Mặt khách thể: Tội cho vay nặng lãi trong giao dịch dân sự xâm phạm trật tự quản lý kinh tế (trật tự trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ)
Mặt chủ quan: Tội cho vay nặng lãi trong giao dịch dân sự được thực hiện với lỗi cố ý với động cơ phạm tội là vì vụ lợi
Mặt khách quan: Tội cho vay nặng lại trong giao dịch dân sự thể hiện ở hành vi cho người khác vay với thỏa thuận lãi suất cao gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất được Bộ luật dân sự quy định
3. Mức hình phạt của hành vi cho vay lãi nặng
- Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 5 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ 30 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 200 triệu đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
- Phạm tội mà thu lợi bất chính 100 triệu đồng trở lên thì bị phạt tiền từ 200 triệu đồng đến 1 tỷ đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
- Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30 triệu đồng đến 100 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm
4. Xử lý trong một số trường hợp cụ thể
| STT | Nội dung |
| 1 | Trường hợp người thực hiện nhiều lần hành vi cho vay lãi nặng, mà số tiền thu lợi bất chính của mỗi lần phạm tội từ 30 triệu đồng trở lên, nếu mỗi lần phạm tội đều chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, thì ngoài việc bị áp dụng khung hình phạt tương ứng với tổng số tiền thu lợi bất chính, họ còn bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 |
| 2 | Trường hợp người thực hiện nhiều lần hành vi cho vay lãi nặng mà các lần thu lợi bất chính đều dưới 30 triệu đồng nhưng tổng số tiền thu lợi bất chính từ 30 triệu đồng trở lên và các hành vi này chưa lần nào bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính, thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự với khung hình phạt tương ứng với tổng số tiền thu lợi bất chính của các lần cho vay lãi nặng, không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 |
| 3 | Trường hợp người thực hiện nhiều lần hành vi cho vay lãi nặng, trong đó có một lần cho vay lãi nặng, thu lợi bất chính từ 30 triệu đồng trở lên và hành vi cho vay lãi nặng này chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự; còn các hành vi cho vay lãi nặng khác thu lợi bất chính dưới 30 triệu đồng, các hành vi này chưa bị xử phạt vi phạm hành chính và chưa hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính, thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự với khung hình phạt tương ứng với tổng số tiền thu lợi bất chính của các lần cho vay lãi nặng, không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 |
| 4 | Trường hợp người cho vay lãi nặng thực hiện nhiều hành vi khác nhau liên quan đến việc đòi nợ (như: dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, uy hiếp tinh thần, gây thương tích, gây tổn hại sức khỏe hoặc có hành vi khác để lấy tài sản,...) thì tùy từng trường hợp họ còn bị xử lý hình sự về tội phạm tương ứng, nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm. |
| 5 | Trường hợp người cho vay lãi nặng nhằm thu lợi bất chính từ 30 triệu đồng trở lên, nhưng vì nguyên nhân ngoài ý muốn mà người cho vay chưa thu lợi bất chính hoặc đã thu lợi bất chính dưới 30 triệu đồng, thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khung hình phạt tương ứng với tổng số tiền thu lợi bất chính mà họ nhằm đạt được. Việc xác định số tiền thu lợi bất chính được thực hiện theo hướng dẫn tại Điều 6 Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP. Khi quyết định hình phạt, Tòa án áp dụng Điều 15 và khoản 3 Điều 57 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 về phạm tội chưa đạt. |
5. Xử lý hành chính hành vi cho vay lãi cao
Trường trường chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì người có hành vi cho vay lãi suất sai quy định có thể bị xử phạt hành vi hành chính. Cụ thể là căn cứ theo Nghị định 144/2021/NĐ-CP
Thì người có hành vi vi phạm sau đây có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng:
- Kinh doanh dịch vụ cầm đồ cho vay tiền có cầm cố tài sản nhưng lãi suất cho vay vượt quá tỷ lệ lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự;
- Không đăng ký ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự mà cho vay tiền có cầm cố tài sản hoặc không cầm cố tài sản nhưng lãi suất cho vay vượt quá tỷ lệ lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự;
Kèm theo bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được đối với hành vi vi phạm. Ngoài ra người cho vay có hành vi lợi dụng việc tổ chức họ để cho vay lãi nặng mà lãi suất cho vay vượt quá tỷ lệ lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự cũng có thể bị xử phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng. Đồng thời còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm.
Trên đây là bài bình luận về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự và các mức phạt của Luật Minh Khuê. Trong trường hợp quý khách có nhu cầu cần luật sư bào chữa hay có bất cứ khúc mắc nào về pháp luật hình sự vui lòng liên hệ Tổng đài tư vấn pháp luật hình sự theo số Hotline: 1900.6162 để được hỗ trợ một cách nhanh, hiệu quả nhất. Luật Minh Khuê xin chân thành cảm ơn !