Xin chào luật sư công ty luật Minh Khuê. Tôi tên là Đăng Nghĩa, hiện tại đang sinh sống và làm việc tại Bắc Giang. Để phục vụ cho công tác nghiên cứu về pháp lý của mình tôi có tìm hiểu về các hoạt động bổ trợ tư pháp. Và bản thân tôi chưa hiểu rõ được bản chất của bổ trợ tư pháp là gì? Rất mong được luật sư giải đáp cụ thể về khái niệm bổ trợ tư pháp và các đặc điểm nhận diện bổ trợ tư pháp ạ. Xin chân thành cảm ơn!

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng gửi thắc mắc tới công ty luật Minh Khuê. Nội dung bạn hỏi chúng tôi nghiên cứu và giải đáp như sau:

1. Bổ trợ tư pháp là gì?

Bổ trợ tư pháp là một cụm từ ghép mới xuất hiện và được sử dụng ngày càng nhiều, kể từ khi Đảng và Nhà nước có chủ trương cải cách tư pháp.

Về mặt cấu trúc, cụm từ "bổ trợ tư pháp" chứa đựng trong nó hai từ ghép có ngữ nghĩa độc lập với nhau. Khi ghép lại, cụm từ "bổ trợ tư pháp" lại có một nội dung mới. Vì vậy, để có thể giải nghĩa chính xác cụm từ "bổ trợ tư pháp" cần thiết đi giải nghĩa của cụm từ "tư pháp" và lý do lựa chọn cụm từ "bổ trợ" cho hoạt động "tư pháp" thay vì cụm từ mang nghĩa tương đồng như "hỗ trợ" hay "giúp đỡ".

2. Tư pháp là gì?

Ở Việt Nam, thuật ngữ Tư pháp hiện được hiểu theo ba khái niệm khác nhau:

2.1. Hiểu tư pháp theo nghĩa rộng

Hiểu theo nghĩa rộng, tất cả các hoạt động có liên quan đến việc bảo vệ pháp luật, xây dựng pháp luật đều được gọi, được xác định là thuộc phạm vi chức năng, nhiệm vụ của cơ quan Tư pháp.

Quan niệm này được thể hiện trong tổ chức và hoạt động của Bộ Tư pháp ở nước ta từ năm 1945 đến năm 1960.

Thuật ngữ Tư pháp, xuất hiện chính thức lần đầu tiên ở nước ta vào thời gian thành lập Chính phủ nhân dân Cách mạng lâm thời vào tháng 8 năm 1945. Trong cơ cấu tổ chức Chính phủ lâm thời vào thời gian đó đã có Bộ Tư pháp. Chức danh Bộ trưởng Bộ Tư pháp do ông Vũ Trọng Khánh đảm nhận.

Thuộc quyền quản lý và nằm trong bộ máy tổ chức của Bộ Tư pháp, vào thời gian này, gồm có: các tòa án, các viện công tố, các dự thẩm viên tức những người làm công tác điều tra các vụ án. Các viên thẩm phán đều do Chính phủ bổ nhiệm. Bộ Tư pháp còn phụ trách việc tu chỉnh án pháp luật, tức công tác thẩm định, soát xét, hoàn thiện các văn bản pháp luật do Chính phủ ban hành. Trong một số sắc lệnh do Chủ tịch nước ký ban hành còn có chữ ký của Bộ trưởng Bộ Tư pháp với vai trò phó thự.

Khái niệm tư pháp, trong thời kỳ 1945 - 1960, bao gồm trong nó ba nội dung: Một là, xây dựng pháp luật; Hai là, giáo dục, tuyên truyền pháp luật; Ba là, bảo vệ pháp luật.

Khái niệm tư pháp theo nghĩa rộng hiện nay lại được mở rộng hơn. Quan điểm này được thể hiện ra trong việc xác định chức năng, nhiệm vụ của Bộ Tư pháp được thành lập trở lại từ sau năm 1981.

Chức danh tư pháp là một cụm từ được dùng để gọi chung một số chức danh hoạt động trong lĩnh vực pháp luật như: thẩm phán, thư ký tòa án, điều tra viên, kiểm sát viên, chấp hành viên, công chứng viên, giám định viên, và luật sư.

Thuật ngữ Tư pháp còn được ghép với một số từ khác để đặt tên cho một số loại công việc có liên quan đến pháp luật như: lý lịch tư pháp, cảnh sát tư pháp, hành chính tư pháp. Các loại công việc như: đăng ký khai sinh, kết hôn, chứng tử, nuôi con nuôi, giám hộ, nhận cha, mẹ, con; đăng ký khai sinh quá hạn, khai tử quá hạn; đăng ký lại việc sinh, tử, kết hôn, nuôi con nuôi đều do các cơ quan thuộc hệ thống Bộ Tư pháp đảm nhiệm.

Theo cách xác định chức năng, nhiệm vụ của các cấp thuộc hệ thống Bộ Tư pháp, theo cách dùng từ để đặt tên cho các loại công việc có liên quan đến pháp luật đã hình thành ở nước ta từ sau năm 1981 đến nay thì thuật ngữ Tư pháp có khái niệm rất rộng khiến cho nhiều ngưòi nghĩ rằng bất cứ việc gì có liên quan đến pháp luật đều thuộc chức năng, nhiệm vụ của ngành Tư pháp cả. Cách hiểu này đã gây ra những phân vân trong những người phụ trách công tác tổ chức. Phải chăng do cách hiểu quá rộng như vậy nên đã nảy sinh khuynh hướng bao biện, ôm đồm trong việc xác định và thực hiện chức năng và nhiệm vụ của ngành Tư pháp?

2.2. Hiểu tư pháp theo nghĩa có giới hạn

Thuật ngữ Tư pháp là từ Việt gốc Hán. Trong tiếng Hán từ “Tư” có hai nghĩa:

Một là, Tư có nghĩa là riêng tư, như: tư hữu: quyền sở hữu riêng; tư bản: vốn riêng; tư điền: ruộng riêng; tư gia: nhà riêng. Trong phân loại pháp luật, ở một số nước đã chia thành hai loại: Tư pháp và Công pháp.

Tư pháp được dùng để chỉ loại luật pháp điều chỉnh quan hệ pháp lý giữa công dân với công dân như Luật dân sự, Luật hôn nhân và gia đình.

Công pháp là loại luật pháp điều chỉnh quan hệ giữa các cơ quan nhà nước với nhau, giữa cơ quan công quyền với công dân như Hiến pháp, Luật tổ chức Chính phủ, Luật bầu cử, ...

Hai là, Tư có nghĩa là giữ gìn, bảo vệ, như: Tư lệnh là người giữ quyền chỉ huy, người ra lệnh; Tư mã: chức quan giữ việc binh; Tư không: chức quan giữ việc quản lý ruộng đất; Tư đồ: chức quan đảm nhiệm việc tiến hành các nghi lễ của các triều đại phong kiến Trung Quốc.

Dưới thời phong kiến ở Việt Nam, chức quan phụ trách việc xét xử các vụ án ở triều đình là Thượng thư bộ hình, ở các địa phương là các viên quan án sát. Thời phong kiến không có chức quan tư pháp.

Với sự lan rộng ảnh hưởng của các cuộc cách mạng tư sản, với sự truyền bá học thuyết tam quyền phân lập đến các nước phương Đông, các học giả Trung Quốc và Việt Nam, vào những năm đầu của thế kỷ XX, đã dùng thuật ngữ Tư pháp để dịch các từ nảy sinh trong phong trào đấu tranh thiết lập, duy trì công lý, bảo vệ quyền làm người, quyền công dân, để chống lại nền chuyên chế, độc tài của chế độ phong kiến ở phương Tây.

Thuật ngữ Tư pháp được dùng để phân biệt ba quyền trong học thuyết "Tam quyền phân lập" của phương Tây: Quyền lập pháp, Quyền hành pháp, và Quyền tư pháp .

Quyền lập pháp là quyền ban hành các đạo luật bao gồm: Hiến pháp, luật, quyền giải thích luật của Nghị viện, Quốc hội.

Quyền hành pháp là quyền ban hành các văn bản dưới luật để thi hành luật, quyền ban hành các quyết định hành chính, quyền áp dụng các hành vi hành chính của Chính phủ và các cơ quan thuộc hệ thống cơ quan hành pháp để thi hành luật.

Quyền tư pháp là quyền điều tra, truy tố, xét xử người đã thực hiện các hành vi phạm tội.

Thuật ngữ Tư pháp còn được dùng để dịch và gọi một số tổ chức và công việc thuộc về pháp luật như: Bộ Tư pháp, cảnh sát tư pháp, giám định tư pháp, biện pháp tư pháp, hành chính tư pháp.

Khái niệm tư pháp có nghĩa là bảo vệ pháp luật được thể hiện một cách chính thức lần đầu tiên ở Việt Nam khi ban hành Hiến pháp năm 1959 và các luật về tòa án, luật về viện kiểm sát năm 1960. Theo Hiến pháp 1959, các viện Công tố, trước thuộc Bộ Tư pháp, nay được thành lập thành một hệ thống riêng là các Viện kiểm sát nhân dân. Các tòa án, trước thuộc Bộ Tư pháp, nay được thành lập thành một hệ thống riêng là các Tòa án nhân dân .

Theo Điều 97 của Hiến pháp 1959, “Tòa án nhân dân tối cao nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, các Tòa án nhân dân địa phương, các Tòa án quân sự là những cơ quan xét xử của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa...”. Theo Điều 105 Hiến pháp 1959: “Viện kiểm sát nhân dân tối cao nước Việt Nam dân chủ cộng hòa kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ, cơ quan nhà nước địa phương, các nhân viên cơ quan nhà nước và công dân. Các Viện kiểm sát nhân dân địa phương và Viện kiểm sát quân sự có quyền kiểm sát trong phạm vi do luật định” .

Như vậy theo Hiến pháp 1959, công tác xét xử các vụ án, công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật được tách khỏi chức năng, nhiệm vụ của ngành tư pháp là cơ quan thi hành pháp luật, thuộc hệ thống các cơ quan hành pháp. Công tác xét xử, công tác kiểm sát được coi là công tác bảo vệ pháp luật. Các tòa án, các viện kiểm sát được hiểu là các cơ quan tư pháp, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội - cơ quan lập pháp .

Riêng đối với công tác điều tra các vụ án, trước đây là do các dự thẩm viên thuộc biên chế của Bộ Tư pháp thực hiện nay lại giao cho các cơ quan điều tra, các điều tra viên thuộc ngành công an đảm nhiệm. Riêng trong quân đội, các điều tra viên hình sự lại thuộc biên chế và chịu sự chỉ đạo của Viện trưởng các Viện kiểm sát quân sự.

Cũng do hiện tượng này nên có ý kiến cho rằng, công tác điều tra các vụ án thuộc ngành hành pháp. Theo quan điểm này, các cơ quan tư pháp chỉ bao gồm các tòa án, các viện kiểm sát và hoạt động của các tòa án, viện kiểm sát mới gọi là hoạt động tư pháp.

Khái niệm tư pháp là bảo vệ pháp luật được thể hiện khá rõ trong Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IX.

Tại mục IX về: “Đẩy mạnh cải cách tổ chức và hoạt động của Nhà nước, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế", văn kiện Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp... Cải cách tổ chức, nâng cao chất lượng và hoạt động của các cơ quan tư pháp, nâng cao tinh thần trách nhiệm của cơ quan và cán bộ tư pháp trong công tác điều tra, bắt, giam, giữ, truy tố, xét xử, thi hành án, không để xảy ra những trường hợp oan, sai. Viện kiểm sát nhân dân thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Sắp xếp lại hệ thống tòa án nhân dân, phân định hợp lý thẩm quyền của tòa án các cấp. Tăng cường đội ngũ thẩm phán và hội thẩm nhân dân cả về số lượng và chất lượng. Tổ chức lại cơ quan điều tra và cơ quan thi hành án theo nguyên tắc gọn đầu mối. Thành lập cảnh sát tư pháp” .

Như vậy, Văn kiện của Đại hội Đảng lần thứ IX đã xác nhận trong tổ chức bộ máy nhà nước của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có phân định ba loại quyền: quyền lập pháp, quyền hành pháp, và quyền tư pháp. Nhưng khác với học thuyết tam quyền phân lập, ở Việt Nam, quyền lực nhà nước là thống nhất. Cũng tại Văn kiện này, Đại hội Đảng đã xác định một cách rõ ràng rằng: “Cải cách tổ chức, nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp, nâng cao tinh thần trách nhiệm của cơ quan và cán bộ tư pháp trong công tác điều tra, bắt, giam, giữ...”.

Nếu như trước Đại hội IX còn có ý kiến cho rằng công tác điều tra, bắt, giam, giữ là công tác hành pháp thì nay đã được xác định công tác điều tra, bắt, giam giữ là công tác tư pháp. Do vậy, cơ quan tiến hành công tác điều tra là cơ quan thuộc hệ thống các cơ quan tư pháp.

Xuất phát từ quan điểm của Đại hội Đảng lần IX về cơ quan tư pháp, đã có ý kiến nêu lên rằng, có nên duy trì như tình trạng hiện nay là để cơ quan điều tra - thuộc hệ thống cơ quan tư pháp, tiếp tục trực thuộc Bộ Công an là cơ quan hành pháp hay không?

Có ý kiến cho là hợp lý khi tách hệ thống cơ quan điều tra của Bộ Công an hiện nay thành hệ thống cơ quan độc lập để tránh tình trạng lẫn lộn chức năng nhiệm vụ của ngành hành pháp với ngành tư pháp và ngăn ngừa hiện tượng lạm dụng quyền lực của cơ quan điều tra.

Qua theo dõi sự biến động về ngữ nghĩa, từ khi ban hành Hiến pháp 1959 đến nay, khái niệm tư pháp được xác định rõ dần, được nhiều người chấp nhận là khái niệm có giới hạn.

Tư pháp, theo khái niệm có giới hạn, là bảo vệ pháp luật. Hoạt động tư pháp, theo khái niệm có giới hạn, là hoạt động điều tra các vụ án; hoạt động công tố, hoạt động kiểm sát điều tra, kiểm sát giam giữ, kiểm sát xét xử, kiểm sát thi hành án của các viện kiểm sát và hoạt động xét xử các vụ án của các tòa án. Các cơ quan tư pháp, theo khái niệm có giới hạn, là các cơ quan điều tra án, các viện kiểm sát, các tòa án.

Khi nói đến việc cải cách, đổi mới tổ chức, hoạt động tư pháp, các văn kiện của Đảng, của Nhà nước đều chỉ rõ là đổi mới tổ chức, hoạt động của các tổ chức tòa án, tổ chức kiểm sát, tổ chức điều tra. Còn việc đổi mới tổ chức, hoạt động ngành tư pháp thuộc hệ thống Bộ Tư pháp lại thuộc phạm trù cải cách hành chính chung của hệ thống bộ máy hành pháp.

2.3. Hiểu tư pháp theo nghĩa hẹp

Hiểu theo nghĩa hẹp, chỉ hoạt động xét xử các vụ án mới được coi là hoạt động tư pháp. Chỉ có các tòa án mới được coi là cơ quan thực hiện và thể hiện quyền lực tư pháp.

Cơ sở lý luận của khái niệm này xuất phát ở chỗ quyền tài phán, quyền xét xử, quyền phán quyết của tòa án là biểu hiện tập trung và là quyền lực cao nhất của quyền lực tư pháp. Công tác điều tra, công tác công tố cũng chỉ là những bước thu thập chứng cứ, sự kiện, bước chuẩn bị để tòa án thực hiện quyền xét xử, quyền ra quyết định cuối cùng bằng quyền phán quyết của tòa án.

Khái niệm hẹp về tư pháp được thể hiện trong Hiến pháp 1946 - Hiến pháp đầu tiên của Việt Nam.

Điều thứ 63 Hiến pháp 1946 quy định: “Cơ quan tư pháp của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa gồm có: a) Tòa án tối cao; b) Các tòa án phúc thẩm; c) Các tòa án đệ nhị cấp và sơ cấp.”

Tư pháp được hiểu theo khái niệm hẹp, trong thực tiễn thường được sử dụng trong trường hợp cần nhấn mạnh vai trò, trách nhiệm của các tòa án đối với việc đấu tranh để thiết lập và bảo vệ công lý. Khi có vụ xét xử oan, sai thì tòa án các cấp không được đổ lỗi trách nhiệm cho cơ quan điều tra hoặc viện kiểm sát. Trong trường hợp có sự điều tra, truy tố oan, sai mà tòa án vẫn xét xử thì lỗi hoàn toàn thuộc về tòa án. Việc giải quyết các đơn khiếu nại, tố cáo đối với các vụ án đã được đưa ra xét xử thuộc trách nhiệm của tòa án.

Trong thực tiễn hiện nay vẫn có tình trạng đổ lỗi cho nhau và chuyển đơn khiếu nại, tố cáo vòng vèo khi xảy ra các vụ án oan, sai. Do vậy, thuật ngữ Tư pháp được hiểu theo khái niệm hẹp vẫn còn có tác dụng trong đấu tranh để nâng cao chất lượng và hoạt động của các tòa án, nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm của các thẩm phán với vai trò, vị trí là khâu biểu hiện tập trung nhất, khâu có ý nghĩa quyết định cuối cùng của cả quá trình công tác bảo vệ pháp luật được khởi đầu bằng công tác điều tra và kết thúc bằng hoạt động xét xử của tòa án.

Trải qua hơn 50 năm đấu tranh xây dựng chính quyền cách mạng ở nước ta, khái niệm về tư pháp ở Việt Nam, đã có nhiều biến đổi và trong thực tiễn ứng dụng đã hình thành ba dạng khái niệm khác nhau: Tư pháp theo nghĩa rộng; Tư pháp theo nghĩa có giới hạn; Tư pháp hiểu theo nghĩa hẹp.

Ba dạng khái niệm này hiện đang được ứng dụng vào hai lĩnh vực hoạt động khác nhau. Tư pháp theo khái niệm rộng được ứng dụng vào lĩnh vực hành pháp, tức vào việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Bộ Tư pháp - một Bộ trong hệ thống cơ quan hành pháp. Còn Tư pháp hiểu theo nghĩa có giới hạn và nghĩa hẹp được ứng dụng vào lĩnh vực bảo vệ pháp luật, tức vào việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của các tòa án, các viện kiểm sát và các cơ quan điều tra án.

3. Vì sao lại dùng cụm từ "bổ trợ" mà không phải "hỗ trợ", "giúp đỡ"?

Để biết sự phù hợp khi chọn sử dụng từ "bổ trợ" cho hoạt động tư pháp thay vì các cụm từ mang nghĩa tương ứng như "hỗ trợ", "giúp đỡ", chúng tôi luận giải ngữ nghĩa của các cụm từ đó dưới đây:

Ở Việt Nam, vấn đề bổ trợ tư pháp được nói đến ngày càng nhiều từ khi có chủ trương khuyến khích đầu tư và thu hút vốn đầu tư của các nhà đầu tư trong nước và các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, từ những năm 90 của thế kỷ XX trở về đây.

Đến năm 1995, vấn đề bổ trợ tư pháp lần đầu tiên được đề cập đến trong Văn kiện hội nghị Trung ương 8 khoá VII một cách chính thức.

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khoá VII nêu: “Quy định rõ nguyên tắc nội dung hoạt động của các tổ chức hỗ trợ tư pháp để hỗ trợ đắc lực hoạt động xét xử của Tòa án một cách khách quan, chính xác và đúng luật...”.

Như vậy, vào thời điểm này, Đảng đã xác định có hai vấn đề cần phải làm:

Một là, làm rõ, quy định rõ các nguyên tắc, nội dung hoạt động của các tổ chức hỗ trợ tư pháp.

Cụ thể là Đảng đã đề ra nhiệm vụ cho các cơ quan nhà nước, các tổ chức nghiên cứu, các nhà khoa học cần làm rõ hoạt động nào là hoạt động hỗ trợ tư pháp, nội dung, hình thức hoạt động hỗ trợ tư pháp bao gồm những vấn đề gì? Hoạt động hỗ trợ tư pháp dựa trên những nguyên tắc nào?....

Hai là, mục đích hoạt động hỗ trợ tư pháp là để hỗ trợ đắc lực hoạt động xét xử của các tòa án.

Như vậy, Văn kiện của Đảng đã xác định rõ mục đích hoạt động hỗ trợ tư pháp được giới hạn trong phạm vi phục vụ cho hoạt động xét xử đúng luật chứ không phải là mở rộng đến phạm vi hoạt động hỗ trợ cho công tác bảo vệ pháp chế, công tác của ngành tư pháp là một ngành trong tổ chức hành pháp.

Nghị quyết Trung ương 8 khoá VII (1995) dùng cụm từ hỗ trợ tư pháp. Nhưng Nghị quyết Trung ương 3 khóa VIII (1997) thì dùng cụm từ bổ trợ tư pháp. Vậy các cụm từ hỗ trợ, bổ trợ, trợ giúp, giúp đỡ là đồng nghĩa hay có sự khác nhau?

Trong các văn bản của Đảng và Nhà nước đã được ban hành, các cụm từ hỗ trợ, bổ trợ được dùng để đề cập vấn đề bổ trợ, hỗ trợ tư pháp để góp phần đấu tranh chống oan, sai trong điều tra, truy tố và xét xử. Còn cụm từ giúp đỡ, trợ giúp, kể cả từ tư vấn thì được dùng trong trường hợp giúp đỡ, trợ giúp, tư vấn pháp lý cho công dân, cho các tổ chức kinh doanh, tổ chức Nhà nước, tổ chức quần chúng.

Như vậy, trường hợp nào thì dùng hỗ trợ, bổ trợ và trường hợp nào thì dùng giúp đỡ, trợ giúp đã được xác định trong các văn bản chính thức của Đảng và Nhà nước. Nhưng về mặt ngữ nghĩa của từ thì hiện nay chưa có nhà ngôn ngữ học nào giải thích. Trong các từ điển tiếng Việt, nội dung các từ bổ trợ, hỗ trợ, trợ giúp và giúp đỡ được trình bày, giải thích theo cách hoán vị các từ: Bổ trợ có nghĩa là trợ giúp, giúp đỡ, thêm vào; Trợ giúp có nghĩa là hỗ trợ, bổ trợ, giúp sức, ... Với cách giải thích như vậy, khi áp dụng vào các lĩnh vực hoạt động khác của Nhà nước, của xã hội thì không có vấn đề gì phát sinh. Nhưng khi đem áp dụng vào lĩnh vực tư pháp thì lập tức nảy sinh sự ngờ vực.

Chẳng hạn, không thể nói luật sư giúp đỡ, hỗ trợ cho hoạt động điều tra, cho hoạt động xét xử được. Nếu dùng từ như vậy sẽ làm phát sinh sự nghi ngờ của quần chúng đối với tính khách quan, vô tư, thiên vị trong xét xử. Trong thực tiễn, hoạt động của điều tra, truy tố xét xử phải giữ vững tính độc lập, khách quan trong thu thập, đánh giá chứng cứ. Các luật sư, các luật gia, các giám định viên, các công chứng viên phải hết sức tôn trọng tính khách quan, tôn trọng sự thật. Bằng hoạt động độc lập trong khuôn khổ pháp luật của mình, các luật sư, các công chứng viên, các giám định viên phải đấu tranh chống lại những sự thiếu khách quan, thiếu vô tư xảy ra trong công tác điều tra, truy tố và xét xử các vụ án, nhằm chông oan, sai, bảo đảm được công lý. Bởi vậy, đối với vấn đề tư pháp không thể dùng thuật ngữ trợ giúp, giúp đỡ mà chỉ có thể dùng thuật ngữ hỗ trợ, hoặc bổ trợ tư pháp.

Như vậy, giữa thuật ngữ hỗ trợ trong ngữ nghĩa có điều khác nhau. Thuật ngữ hỗ trợ rất gần với thuật ngữ trợ giúp, giúp đỡ. Vì trong hỗ trợ có sự giúp sức, giúp lực, giúp đỡ trí tuệ - tư vấn của người hỗ trợ cho bên được hỗ trợ như: hỗ trợ vốn, hỗ trợ con giốhg, cây trồng, vật nuôi, ... Còn khi dùng thuật ngữ bổ trợ thì không bao hàm việc giúp sức, giúp vốn cho bên hỗ trợ. Bên bổ trợ và bên được bổ trợ không hề phụ thuộc nhau về bất cứ điều kiện vật chất nào.

Từ đó có thể nói nếu hoạt động của luật sư, của công chứng giám định có căn cứ, cơ sở pháp lý, khoa học vững chắc thì nó làm cho công tác điều tra, truy tố, xét xử không phạm sai lầm. Công lý, do vậy, sẽ là mục tiêu chung trong hoạt động của bên thực hiện nhiệm vụ bổ trợ tư pháp với bên đảm nhận quyền tư pháp của Nhà nước. Vì vậy, nên sử dụng cụm từ bổ trợ tư pháp (như Văn kiện Hội nghị Trung ương 3 khoá VIII của Ban Chấp hành Trung ương Đảng) thì chính xác hơn.

4. Kết luận bổ trợ tư pháp là gì?

Từ việc chia nhỏ cụm từ "bổ trợ tư pháp" để giải nghĩa cụm từ "bổ trợ tư pháp", đi đến kết luận như sau:

Bổ trợ tư pháp là trợ giúp, tạo điều kiện cho hoạt động tư pháp tiến hành được thuận lợi, nhanh chóng, chính xác bằng cách cung cấp hồ sơ, chứng cứ, phản biện cho các khâu, đoạn trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, đồng thời giúp cho cá nhân công dân, tổ chức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Bổ trợ tư pháp liên quan chặt chẽ, hướng vào hoạt động tư pháp, có tính chất tư pháp nhưng không lẫn lộn với hoạt động tư pháp với tư cách là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước.

Các hoạt động bổ trợ tư pháp gồm hoạt động luật sư, tư vấn pháp luật, giám định, công chứng, lí lịch tư pháp... Trong đó, luật sư, giám định là hoạt động mang tính chất điển hình cho bổ trợ tư pháp. Các hoạt động khác như công chứng, tư vấn pháp luật, lý lịch tư pháp... có ý nghĩa là hoạt động mang tính chất hỗ trợ tư pháp, khi các hoạt động đó có liên quan trực tiếp đến hoạt động tố tụng mà những hoạt động này, trong nhiều trường hợp, giúp cho các hoạt động quản lý khác.

Cơ quan tiến hành hoạt động bổ trợ tư pháp có thể do Nhà nước thành lập, cũng có thể do cá nhân công dân, tổ chức thành lập và thường không mang tính... quyền lực nhà nước, không mang tính bắt buộc và chỉ có ý nghĩa phụ giúp, hỗ trợ cho hoạt động tư pháp.

Hoạt động bổ trợ tư pháp một mặt góp phần nâng cao hiệu lực quản lý của nhà nước, mặt khác góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế và công dân.

Trên đây là bài viết của chúng tôi về nội dung "Bổ trợ tư pháp là gì? Hiểu đúng về khái niệm bổ trợ tư pháp".

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

Luật Minh Khuê (Sưu tầm và biên tập)