1. Thực trạng hoạt động bổ trợ tư pháp

Công tác tư pháp luôn có ý nghĩa quan trọng đối với thắng lợi của cách mạng Việt Nam, là kết quả của quá trình xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, là phương tiện để bảo đảm trật tự xã hội, bảo đảm công bằng cũng như thúc đẩy và bảo vệ quyền con người. Trong quá trình lãnh đạo nhà nước, cải cách tư pháp là nhiệm vụ quan trọng được Đảng ta đề ra cùng với nhiệm vụ cải cách công tác lập pháp và cải cách hành chính nhằm thực hiện chủ trương lớn là “thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước”. 

Với góc độ bổ trợ cho hoạt động tố tụng thì BTTP được hiểu một cách đơn giản là trợ giúp, tạo điều kiện cho hoạt động tư pháp tiến hành được thuận lợi, nhanh chóng, chính xác bằng cách cung cấp hồ sơ, chứng cứ, phản biện cho các khâu, đoạn trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, đồng thời, giúp cho cá nhân công dân, tổ chức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Theo khoản 20 Điều 2 Nghị định số 22/2013/NĐ-CP ngày 13/3/2013 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp thì BTTP bao gồm các lĩnh vực: luật sư, tư vấn pháp luật, công chứng, giám định tư pháp, bán đấu giá tài sản, trọng tài thương mại.

Báo cáo của Bộ Tư pháp cho thấy, những năm qua, hoạt động BTTP đã có bước phát triển mạnh mẽ, nhiều hoạt động có tính đột phá nhờ thực hiện chủ trương xã hội hóa theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW, trong đó, công chứng, luật sư và giám định tư pháp là những lĩnh vực hoạt động có vai trò hỗ trợ đắc lực cho hệ thống tư pháp. Công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế được quan tâm, chú trọng; hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực BTTP đã góp phần thể chế hóa kịp thời, đầy đủ chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước và góp phần thúc đẩy sự phát triển, chất lượng cũng như tính chuyên nghiệp của hoạt động hành nghề trong lĩnh vực BTTP.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực đã đạt được, hoạt động BTTP cũng như công tác quản lý nhà nước (QLNN) về lĩnh vực BTTP vẫn còn những hạn chế cần được khắc phục. Trong bối cảnh xã hội hóa mạnh mẽ hoạt động BTTP, do quan điểm, nhận thức coi các nghề tư pháp như các nghề kinh doanh thông thường nên có xu hướng “tự do hóa” đối với các nghề này thay vì chú trọng đến chất lượng, tính chuyên nghiệp cũng như sứ mệnh bảo vệ công lý, công bằng xã hội và an toàn giao dịch, chống thất thoát tài sản công của chúng.

Hoạt động của một số tổ chức hành nghề BTTP, như luật sư, công chứng, đấu giá tài sản, thừa phát lại còn có sai phạm, vi phạm đạo đức nghề nghiệp; vẫn còn hiện tượng chạy theo lợi nhuận gây ảnh hưởng đến uy tín hoạt động hành nghề trong xã hội, nhất là trong bối cảnh thực hiện chủ trương cắt giảm các điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực BTTP. Một số công chứng viên còn yếu về chuyên môn, nghiệp vụ, một bộ phận luật sư chưa đáp ứng được yêu cầu về dịch vụ pháp lý, chủ yếu là tham gia tố tụng; đội ngũ giám định viên còn thiếu về số lượng và hạn chế về chất lượng…

Bên cạnh đó, việc cấp một số chứng chỉ hành nghề trong lĩnh vực BTTP còn chậm. Việc thẩm tra đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề luật sư, bổ nhiệm công chứng viên, thừa phát lại của một số sở Tư pháp còn mang tính chiếu lệ, chưa bảo đảm các thông tin hồ sơ đầy đủ, dẫn đến nhiều văn bản phải yêu cầu đính chính thông tin, xác minh… khiến thời gian xem xét cấp phép bị kéo dài.

Vai trò QLNN của các cơ quan hữu quan chưa thực sự đi vào chiều sâu, việc áp dụng các chế tài xử lý vi phạm chưa đủ mạnh, chưa có biện pháp hiệu quả để quản lý và chỉ đạo hoạt động BTTP.

2. Tăng cường hoạt động bổ trợ tư pháp

Việc xác định và bảo vệ công lý trong những trường hợp cụ thể là công việc khó khăn và phức tạp, nó đòi hỏi chủ thể xét xử phải nghe nhiều thông tin đánh giá từ các góc độ khác nhau; phải phân tích, đánh giá, cân nhắc toàn diện, khách quan, cẩn thận từng vấn đề thì mới có thể xác định được “những lẽ chung đúng đắn” để quyết định quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm pháp lý cụ thể một cách chính xác và thuyết phục. Do đó, các nhà làm luật đã quy định nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong các luật tố tụng hiện nay là hết sức đúng đắn để giúp cho chủ thể xét xử bảo vệ công lý một cách hiệu quả.

2.1. Vai trò của Luật sư trong tranh tụng

Vai trò của luật sư dựa trên nguyên tắc tôn trọng quyền bào chữa của bị can, bị cáo, luật sư là người tham gia tố tụng, có vai trò thực hiện chức năng bào chữa cho bị can, bị cáo góp phần giúp cho vụ án được giải quyết một cách khách quan, toàn diện, không làm oan, sai cho người vô tội. Tranh tụng đòi hỏi các chủ thể tiến hành tố tụng, các cá nhân, cơ quan có liên quan phải có trách nhiệm đảm bảo cho hoạt động tranh tụng được thực hiện đúng theo các quy định của pháp luật.
Bộ luật tố tụng hình sự năm cũng đưa ra nguyên tắc: đảm bảo quyền bình đẳng cho luật sư bào chữa khi tham gia tranh tụng tại phiên tòa.
Luật sư có vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện nguyên tắc tranh tụng. Luật sư không phải là bên có quyền, lợi ích liên quan đến cáo buộc hay tranh chấp trong vụ án; họ là người có quan điểm bào chữa, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên; họ thực hiện công việc bào chữa, bảo vệ có tính chuyên nghiệp giống như Kiểm sát viên và Thẩm phán. Luật sư tham gia vụ án giúp cho các quan điểm giải quyết vụ án được cân bằng; có quan điểm công tố, bảo vệ pháp luật để bảo vệ lợi ích công cộng thì cũng phải có quan điểm bào chữa, bảo vệ quyền, lợi ích của cá nhân, tổ chức cụ thể. Điều đó giúp cho chủ thể xét xử tiếp cận những thông tin đánh giá một cách đa chiều, toàn diện để có thể xác định và bảo vệ công lý một cách thuận lợi và nhanh chóng. Chính vì thế, Luật luật sư năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2012) đã xác định: “Hoạt động nghề nghiệp của luật sư góp phần bảo vệ công lý, các quyền tự do, dân chủ của công dân, quên, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”. Các bên sẽ cùng tranh luận, đưa ra chứng cứ để bảo vệ quan điểm. Dựa vào đó, bồi thẩm đoán sẽ là người quyết định xem bị cáo có tội hay vô tội và tòa sẽ tuyên án. Mô hình này nêu cao vai trò của người bào chữa, tạo sự cân xứng giữa bên gỡ tội và bên buộc tội). Điều này chứng tỏ thực tiễn hoạt động xét xử của Việt Nam đã có sự tiếp nhận những yếu tố nhất định trong mô hình tranh tụng của các nước. Sự tiếp nhận này thể hiện rất rõ trong hoạt động của luật sư.

2.2. Luật sư bắt buộc có mặt trong các vụ án?

Luật sư tham gia vào tố tụng là một yêu cầu tất yếu, trước hết là bảo vệ thân chủ sau là bảo vệ công lý và để cho hoạt độn tố tụng được tiến hành theo quy định. Để phát huy hết giá trị của nguyên tắc tranh tụng, yêu cầu tất cả các vụ án đều phải có luật sư tham gia là một tất yếu. Để thực hiện điều này thì phải có thời gian và lộ trình phù hợp để phát triển số lượng và chất lượng luật sư tương ứng. Với số lượng hơn 13.000 luật sư tính đến tháng 01/2019, trước mắt có thể đáp ứng được yêu cầu thực hiện nguyên tắc tranh tụng tại các vụ án hình sự. Do đó, đã đến lúc nên quy định bắt buộc phải có người bào chữa ở tất cả các vụ án hình sự, không nên bắt buộc chỉ ở các vụ án có mức án cao hay liên quan đến đối tượng yếu thế như quy định hiện nay tại Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Việc luật sư tham gia tất cả các vụ án hình sự có nhiều ý nghĩa quan trọng. Trước hết, đó là bảo đảm quyền tiếp cận công lý, thể hiện sự tôn trọng quyền con người, nhất là quyển thiết yếu là quyển sống và quyền tự do, cần phải xét xử cẩn trọng với sự tham gia ý kiến của nhiều bên. Thứ hai, điều đó sẽ tạo điều kiện để các luật sư trau dồi kỹ năng nghề nghiệp, góp phần hiệu quả trong việc bảo vệ công lý, vai trò của luật sư sẽ ngày càng được nâng cao. Một lần nữa khẳng định để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho thân chủ của mình trong vụ án hình sự, Luật sư cần trực tiếp tham gia vào vụ án. Dù Luật sư tham gia tố tụng với tư cách nào, ở giai đoạn nào đều  ý nghĩa bảo vệ công lý, bảo đảm cho các hoạt động tố tụng được tiến hành khách quan, đúng pháp luật.

Trong các hoạt động của ba giai đoạn tố tụng hình sự, hoạt động tranh tụng của luật sư mặc dù chưa được quy định phù hợp với thực tiễn xét xử, song trên thực tế luật sư đã và đang chuyển dần từ vai trò của người hỗ trợ cho hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án sang vai trò chính là người “gỡ tội”. Đối với các vụ việc dân sự và hành chính, bên cạnh triển khai các hình thức trợ giúp pháp lý để giúp các đối tượng yếu thế theo luật trợ giúp pháp lý hiện nay, thì việc nghiên cứu các hình thức đa dạng để giúp người dân sử dụng dịch vụ pháp lý nhiều hơn cũng nên được quan tâm. Các hình thức bảo hiểm quyền lợi mà một số nước châu Âu hiện nay đang áp dụng là một ví dụ đáng tham khảo. Theo hình thức này, người mua bảo hiểm sẽ được công ty bảo hiểm chi trả các chi phí cho giám định, nhân chứng, chuyên gia, luật sư và chi phí tố tụng để được bảo vệ quyền lợi khi phải tiến hành tranh chấp pháp lý dân sự trước Tòa án. Các yêu cầu pháp lý được bảo hiểm phải có căn cứ và có khả năng thắng kiện. Đối với những trường hợp cố ý dẫn đến tranh chấp pháp lý hoặc các vụ kiện không có căn cứ sẽ không được chi trả. Việc tham gia bảo hiểm quyền lợi như vậy sẽ giúp giảm chi phí luật sư và chi phí tố tụng, qua đó sẽ giúp người dân có khả năng sử dụng dịch vụ pháp lý từ phía luật sư nhiều hơn, mở rộng quyền tiếp cận công lý của người dần.

Ngoài các giải pháp thúc đẩy nhu cầu có luật sư nêu trên, việc mở rộng đối tượng được bổ nhiệm Thẩm phán là những luật sư có uy tín và kinh nghiệm cũng cần được nghiên cứu để nâng cao vị thế của luật sư, qua đó tạo sức thu hút nghề nghiệp luật sư để ngày càng gia tăng đội ngũ và chất lượng luật sư đáp ứng yêu cầu của xã hội.

3. Hiện đại hóa cơ sở vật chất phục vụ xét xử

Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật hiện nay đã tác động sâu rộng đến mọi mặt của đời sống xã hội nói chung và trong hoạt động tư pháp nói riêng. Sự phát triển của hệ thống internet, công nghệ sinh học, điện toán đám mây, công nghệ blockchain, trí tuệ nhân tạo... đang đặt ra những thách thức hê quan đến chính sách pháp luật, đến tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp trong việc đấu tranh phòng, chống tội phạm, giải quyết tranh chấp. Tòa án nhân dân tối cao đang xây dựng hệ thống gửi, nhận đơn khởi kiện, tài liệu chứng cứ và cấp tống đạt, thông báo văn bản tố tụng bằng phương tiện điện tử (đang áp dụng thí điểm tại Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh); đã triển khai hệ thống đăng ký trực tuyến cấp sao, trích lục bản án, tài liệu trong hồ sơ vụ án trên Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tối cao... Tuy nhiên, có thể thấy, việc ứng dụng các thành tựu công nghệ trong hoạt động tư pháp ở Việt Nam vẫn còn những hạn chế, cần phải tiếp tục hiện đại hóa hơn nữa mới có thể đáp ứng nhu cầu xã hội hiện nay. Do đó, một số phương hướng ban đầu để xây dựng nền tư pháp hiện đại được đề xuất như sau:

Cần đẩy mạnh công tác nghiên cứu, xây dựng hệ thống hỗ trợ tư pháp thông minh để cải thiện khả năng lưu trữ, trích xuất dữ liệu tư pháp, qua đó tăng cường khả năng tương tác, chia sẻ dữ liệu để phục vụ hoạt động tư pháp nói chung và xét xử của Tòa án nói riêng;

Cần nghiên cứu xây dựng các Tòa án thông minh trên nền tảng internet, trí tuệ nhân tạo, công nghệ nhận dạng... để có thể xét xử từ xa, mở phiên tòa kỹ thuật số để giảm thiểu chi phí và thời gian xử lý các vụ kiện...


Luật Minh Khuê - Phân tích và tổng hợp