Câu hỏi của bạn chúng tôi xin được trích lại như sau:
Do thiếu quan sát trong khi lái xe nên A đã để xe đâm phải một đoàn xe đang đi đón dâu. Sau khi gây tai nạn, A thấy những người còn lại trong đoàn đón dâu cầm gạch đá, hò hét đòi xử lý mình. Do lo sợ, A đã bỏ xe và chạy khỏi hiện trường nhưng sau đó đã tới cơ quan công an nơi gần nhất để trình báo. Vậy hành vi bỏ trốn của A có bị coi là hành vi bỏ trốn sau khi gây tai nạn để trốn tránh trách nhiệm không?
Cảm ơn bạn đã sử dụng dịch vụ tư vấn của Luật Minh Khuê. Câu hỏi được chúng tôi biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật giao thông của Công ty Luật Minh Khuê.
Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:
Cơ sở pháp lý:
- Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 ngày 27 tháng 11 năm 2015 của Quốc hội khóa XIII;
- Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 ngày 20 tháng 06 năm 2017 của Quốc hội khóa XIV;
- Luật Giao thông đường bộ số 23/2008/QH12 ngày 13 tháng 11 năm 2008 của Quốc hội khóa 12;
- Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2019 của Chính phủ Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt;
- Nghị định số 123/2021/NĐ-CP ngày 28 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ Sửa đổi, bổ sung một số Điều của các Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Hàng hải; Giao thông đường bộ, đường sắt; Hàng không dân dụng.
Nội dung tư vấn:
1. Các khái niệm:
Để hiểu rõ quy định pháp luật thì cần hiểu rõ được các thuật ngữ mà luật quy định. Dưới đây là các khái niệm liên quan đến vấn đề tham gia giao thông đường bộ của người điều khiển phương tiện, được quy định tại Điều 3 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 như sau:
- Phương tiện giao thông đường bộ gồm phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, phương tiện giao thông thô sơ đường bộ.
- Phương tiện giao thông cơ giới đường bộ (sau đây gọi là xe cơ giới) gồm xe ô tô; máy kéo; rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc được kéo bởi xe ô tô, máy kéo; xe mô tô hai bánh; xe mô tô ba bánh; xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự.
- Phương tiện giao thông thô sơ đường bộ (sau đây gọi là xe thô sơ) gồm xe đạp (kể cả xe đạp máy), xe xích lô, xe lăn dùng cho người khuyết tật, xe súc vật kéo và các loại xe tương tự.
- Phương tiện tham gia giao thông đường bộ gồm phương tiện giao thông đường bộ và xe máy chuyên dùng.
- Người tham gia giao thông gồm người điều khiển, người sử dụng phương tiện tham gia giao thông đường bộ; người điều khiển, dẫn dắt súc vật; người đi bộ trên đường bộ.
- Người điều khiển phương tiện gồm người điều khiển xe cơ giới, xe thô sơ, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ.
- Người lái xe là người điều khiển xe cơ giới.
Trường hợp của bạn không nêu rõ bạn điều khiển phương tiện gì nên chúng tôi xin giả định bạn là người điều khiển phương tiện xe cơ giới - xe mô tô hai bánh.
2. Hành vi bỏ trốn sau khi gây tai nạn:
Bỏ trốn sau khi gây tai nạn để trốn tránh trách nhiệm là hành vi mà pháp luật nghiêm cấm theo quy định tại khoản 17 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ năm 2008.
Khi xảy ra tai nạn giao thông thì cơ quan, tổ chức, cá nhân đều phải có trách nhiệm để giải quyết những vấn đề liên quan đến vụ tai nạn giao thông đó. Và trách nhiệm cụ thể được quy định tại Điều 38 Luật giao thông đường bộ năm 2008 như sau:
1. Người điều khiển phương tiện và những người liên quan trực tiếp đến vụ tai nạn có trách nhiệm sau đây:
a) Dừng ngay phương tiện; giữ nguyên hiện trường; cấp cứu người bị nạn và phải có mặt khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu;
b) Ở lại nơi xảy ra tai nạn cho đến khi người của cơ quan công an đến, trừ trường hợp người điều khiển phương tiện cũng bị thương phải đưa đi cấp cứu hoặc phải đưa người bị nạn đi cấp cứu hoặc vì lý do bị đe dọa đến tính mạng, nhưng phải đến trình báo ngay với cơ quan công an nơi gần nhất;
c) Cung cấp thông tin xác thực về vụ tai nạn cho cơ quan có thẩm quyền.
2. Những người có mặt tại nơi xảy ra vụ tai nạn có trách nhiệm sau đây:
a) Bảo vệ hiện trường;
b) Giúp đỡ, cứu chữa kịp thời người bị nạn;
c) Báo tin ngay cho cơ quan công an, y tế hoặc Ủy ban nhân dân nơi gần nhất;
d) Bảo vệ tài sản của người bị nạn;
đ) Cung cấp thông tin xác thực về vụ tai nạn theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.
3. Người điều khiển phương tiện khác khi đi qua nơi xảy ra vụ tai nạn có trách nhiệm chở người bị nạn đi cấp cứu. Các xe được quyền ưu tiên, xe chở người được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao, lãnh sự không bắt buộc thực hiện quy định tại khoản này.
4. Cơ quan công an khi nhận được tin về vụ tai nạn có trách nhiệm cử người tới ngay hiện trường để điều tra vụ tai nạn, phối hợp với cơ quan quản lý đường bộ và Ủy ban nhân dân địa phương bảo đảm giao thông thông suốt, an toàn.
5. Ủy ban nhân dân cấp xã nơi xảy ra tai nạn có trách nhiệm kịp thời thông báo cho cơ quan công an, y tế đến để xử lý, giải quyết vụ tai nạn; tổ chức cứu chữa, giúp đỡ người bị nạn, bảo vệ hiện trường, bảo vệ tài sản của người bị nạn; trường hợp có người chết mà không rõ tung tích, không có thân nhân hoặc thân nhân không có khả năng chôn cất thì sau khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã hoàn tất các công việc theo quy định của pháp luật và đồng ý cho chôn cất, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức chôn cất.
Trường hợp vụ tai nạn vượt quá khả năng giải quyết, Uỷ ban nhân dân cấp xã phải kịp thời báo cáo Uỷ ban nhân dân cấp trên.
6. Bộ Công an có trách nhiệm thống kê, tổng hợp, xây dựng cơ sở dữ liệu thông tin về tai nạn giao thông đường bộ, cung cấp cho cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật.
Trong đó, tại điểm b khoản 1 có quy định về trách nhiệm của người điều khiển phương tiện là: "Ở lại nơi xảy ra tai nạn cho đến khi người của cơ quan công an đến, trừ trường hợp người điều khiển phương tiện cũng bị thương phải đưa đi cấp cứu hoặc phải đưa người bị nạn đi cấp cứu hoặc vì lý do bị đe dọa đến tính mạng, nhưng phải đến trình báo ngay với cơ quan công an nơi gần nhất".
Như vậy, có thể thấy, Luật Giao thông đường bộ năm 2008 cho phép người điều khiển phương tiên gây tại nạn rời khỏi hiện trường vụ tai nạn trong các trường hợp sau:
- Người điều khiển phương tiện gây tai nạn bị thương phải đưa đi cấp cứu;
- Người điều khiển phương tiên gây tai nạn phải đưa người bị nạn đi cấp cứu;
- Người điều khiển phương tiện bỏ đi vì lý do bị đe dọa đến tính mạng.
Lưu ý, trong các trường hợp này người điều khiển phương tiện phải đến trình báo ngay với cơ quan công an nơi gần nhất.
Do đó, trong trường hợp của bạn là do lo sợ bị những người trong đoàn đón dâu dọa đánh và xử lý mình nên bạn mới bỏ xe và trốn khỏi hiện trường. Nhưng sau đó, bạn cũng đã tới trình báo tại trụ sở công an nơi gần nhất. Vì thế, hành vi của bạn không bị coi là hành vi bỏ trốn sau khi gây tai nạn để trốn tránh trách nhiệm (quy định tại khoản 17 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ năm 2008).
3. Mức xử phạt, Trách nhiệm hình sự khi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ:
Tại Nghị định số 100/2019/NĐ-CP, sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 123/2021/NĐ-CP quy định về các mức xử phạt người điều khiển xe thực hiện hành vi vi phạm quy tắc tham gia giao thông như sau:
- Điều 5: Đối với người điều khiển xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô, phạt tiền từ 200.000 đồng đến tối đa 40.000.000 đồng; có thể thâm hphạt bổ sung, tước quyền sử dụng giấy phép lái xe từ 03 tháng đến tối đa 24 tháng.
- Điều 6: Đối với người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy, phạt tiền từ 100.000 đồng đến tối đa 14.000.000 đồng; có thể có hinh fphajt bổ sung, tước quyền sử dụng giấy phép lái xe từ 01 tháng đến tối đa 24 tháng.
- Điều 7: Đối với người điều khiển máy kéo, xe máy chuyên dùng, phạt tiền từ 100.000 đồng đến tối đa 18.000.000 đồng; có thể có hình phạt bổ sung, tước quyền sử dụng giấy phép lái xe (khi điều khiển máy kéo), chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ (khi điều khiển xe máy chuyên dùng) từ 01 tháng đến tối đa 24 tháng.
- Điều 8: Đối với người điều khiển xe đạp, xe đạp máy (kể cả xe đạp điện), người điều khiển xe thô sơ khác, phạt tiền từ 80.000 đồng đến tối đa 600.000 đồng; có thể có hình phạt bổ sung.
Ngoài ra, khi tham gia giao thông có vi phạm quy định về Luật Giao thông đường bộ mà gây hậu quả nghiêm trọng thì có thể phải chịu trách nhiệm hình sự khi phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 như sau:
1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;
d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;
b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kích thích mạnh khác;
c) Bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;
d) Không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;
đ) Làm chết 02 người;
e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%:
g) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Làm chết 03 người trở lên;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;
c) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.
4. Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả quy định tại một trong các điểm a, b và c khoản 3 Điều này nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.
5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Như vậy, tùy vào hậu quả mà hành vi phạm tội gây ra thì hình phạt tối đa cho tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ có thể bị phạt tù đến 15 năm và có thể có hình phạt bổ sung.
Kết luận: Trong trường hợp của bạn, thì hành vi của bạn không bị coi là hành vi bỏ trốn sau khi gây tai nạn để trốn tránh trách nhiệm (quy định tại khoản 17 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ năm 2008). Và tùy vào phương tiện bạn điều khiển gây tai nạn là phương tiện gì, gây hậu quả ở mức độ nào để xác định chính xác mức phạt bạn phải chịu và bạn có phải chịu trách nhiệm hình sự hay không.
Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.
Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900 6162 hoặc gửi qua email: luatsu@luatminhkhue.vn để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Bộ phận Tư vấn Luật giao thông.