1. Quy định mức bồi thường khi gây tai nạn giao thông chết người ?

Xin chào Luật Minh Khuê ! Tôi có điều khiển xe oto tham gia giao thông và gây tai nạn. Tôi đã đưa nạn nhân đi cấp cứu, nhưng không qua khỏi. Vậy bây giờ tôi phải bồi thường những chi phí gì cho gia đình nạn nhân. Mong Luật sư tư vấn giúp !

Quy định mức bồi thường khi gây tai nạn giao thông chết người

Cảnh sát xử lý hiện trường một vụ tai nạn giao thông - Ảnh minh họa

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Căn cứ Điều 601 Bộ luật dân sự 2015 có quy định về bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, cụ thể: phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định. Theo nguyên tắc bồi thường thiệt hại được quy định tại Điều 585 Bộ luật dân sự 2015 như sau:

Điều 585. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại
1. Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình.
3. Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.
4. Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra.
5. Bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình.

Theo quy định tại Điều 591 của Bộ luật dân sự 2015 thì bồi thường Thiệt hại về tính mạng gồm:

Điều 591. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm
1. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm:
a) Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm theo quy định tại Điều 590 của Bộ luật này;
b) Chi phí hợp lý cho việc mai táng;
c) Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng;
d) Thiệt hại khác do luật quy định.
2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp tính mạng của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có tính mạng bị xâm phạm không quá một trăm lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

Nếu trường hợp một bên có lỗi, có trách nhiệm bồi thường thiệt hại mà không bồi thường hoặc có tranh chấp về mức bồi thường thì bên bị thiệt hại hoặc các bên hoàn toàn có quyền khởi kiện dân sự đến Tòa án; thời hiệu yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp là là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.

>> Xem ngay: Tai nạn giao thông gây chết người hai bên gia đình có thể tự hòa giải không liên quan đến pháp luật được không ?

>> Xem thêm:  Tại sao xe nhỏ đi sai, xe lớn đi đúng khi xảy ra tai nạn giao thông thì xe lớn vẫn phải đền xe nhỏ ?

2. Tạm giữ xe khi xảy ra tai nạn giao thông ?

Thưa Luật sư! Gia đình em có một chiếc xe Honda nhãn hiệu WAY RSX 110 do em đứng tên. Hôm đó vì quá bận rộn nên em giao xe cho vợ em điều khiển để đón con đi học về. Vợ em thì không có bằng lái, khi vợ em điều khiển chiếc xe tới ngã ba thì một chiếc xe Honda khác từ trong ngã ba lao ra làm cho hai chiếc xe đụng vào nhau (tuyến đường này là tuyến đường làng có tráng nhựa, không phải tuyến đường Quốc lộ 1).

Khi em nhận được tin lập tức chạy ra và thấy vợ em ra máu phần đầu khá là nhiều, còn chủ xe bên kia chỉ xây xát nhẹ. Em lập tức đưa vợ em đến bệnh viện. Khi vừa tới bệnh viện thì công an ở ngay hiện trường nơi xảy ra tai nạn có gọi điện thoại cho em hỏi là: vụ việc xảy ra như vậy thì em tính thế nào, hai bên dàn xếp mạnh ai lấy xe về để sửa hay là cho công an huyện xuống đem xe về huyện để công an huyện giải quyết? Trong lúc đó thì em ở bệnh viện rất xa hiện trường nên em chấp nhận cho công an huyện đem cả hai chiếc xe về công an huyện. Vậy vợ em thì đang còn nằm trong bệnh viện thì em có lên huyện xin nhận lại xe được không hay là phải đợi tới lúc vợ em ra viện? Đi nhận lại xe thì phải mang theo những giấy tờ gì? Đóng tiền là bao nhiêu?

Xin chân thành cảm ơn!

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Căn cứ quy định tại khoản 8 Điều 125 Luật xử lý vi phạm hành chính thì:

"Thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề là 07 ngày, kể từ ngày tạm giữ. Thời hạn tạm giữ có thể được kéo dài đối với những vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp, cần tiến hành xác minh nhưng tối đa không quá 30 ngày, kể từ ngày tạm giữ tang vật, giấy phép, chứng chỉ hành nghề."

Chú ý: Khi tạm giữ và trả phương tiện phải có quyết định và biên bản theo quy định của pháp luật.

Như vậy, nếu qua quá trình điều tra, cơ quan điều tra không quyết định khởi tố vụ án hình sự thì bạn có thể làm đơn đề nghị trả xe gửi cơ quan công an để được trả lại xe. Việc trả phương tiện phải có quyết định và biên bản theo quy định của pháp luật.

>> Xem ngay: Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết vụ tai nạn giao thông ? Quy định về nhân chứng trong vụ tai nạn giao thông ?

>> Xem thêm:  Hỏi về quyền và nghĩa vụ của cảnh sát giao thông ? Trách nhiệm hình sự khi gây tai nạn giao thông

3. Tư vấn xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi xảy ra tai nạn giao thông ?

Thưa luật sư, cho em hỏi em là người khuyết tật nặng chạy xe ba bánh đang lưu thông, trong khi điều khiển xe chờ cho xe tải đi qua em đã dừng lại và đứng dừng xe sát lề đường chuẩn bị chạy thì có 1 chiếc xe môtô khác do một anh say rượu đâm thẳng vào xe em, xe em bị ngã và móp vành, người bị xây xát nhẹ nhưng anh gây tai nạn thì bị thương nặng hơn em hiện đang nằm viện.

Vậy xin cho em hỏi trong trường hợp này em có phải nộp phạt không? khoảng bao lâu em mới được lấy xe, và em có được bồi thường hay bồi thường ạ? Rất mong được sự tư vấn của Luật sư.

Em xin chân thành cám ơn!

Tư vấn xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi xảy ra tai nạn giao thông ?

Luật sư tư vấn trực tiếp về pháp luật dân sự, gọi: 1900.0159

Trả lời:

Chào bạn,Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Hành vi dừng, đỗ xe trên đường được quy định tại Điều 18 và Điều 19 Luật giao thông đường bộ 2008 quy định như sau:

"Điều 18. Dừng xe, đỗ xe trên đường bộ

1. Dừng xe là trạng thái đứng yên tạm thời của phương tiện giao thông trong một khoảng thời gian cần thiết đủ để cho người lên, xuống phương tiện, xếp dỡ hàng hóa hoặc thực hiện công việc khác.

2. Đỗ xe là trạng thái đứng yên của phương tiện giao thông không giới hạn thời gian.

3. Người điều khiển phương tiện khi dừng xe, đỗ xe trên đường bộ phải thực hiện quy định sau đây:

a) Có tín hiệu báo cho người điều khiển phương tiện khác biết;

b) Cho xe dừng, đỗ ở nơi có lề đường rộng hoặc khu đất ở bên ngoài phần đường xe chạy; trường hợp lề đường hẹp hoặc không có lề đường thì phải cho xe dừng, đỗ sát mép đường phía bên phải theo chiều đi của mình;

c) Trường hợp trên đường đã xây dựng nơi dừng xe, đỗ xe hoặc quy định các điểm dừng xe, đỗ xe thì phải dừng, đỗ xe tại các vị trí đó;

d) Sau khi đỗ xe, chỉ được rời khỏi xe khi đã thực hiện các biện pháp an toàn; nếu xe đỗ chiếm một phần đường xe chạy phải đặt ngay biển báo hiệu nguy hiểm ở phía trước và phía sau xe để người điều khiển phương tiện khác biết;

đ) Không mở cửa xe, để cửa xe mở hoặc bước xuống xe khi chưa bảo đảm điều kiện an toàn;

e) Khi dừng xe, không được tắt máy và không được rời khỏi vị trí lái;

g) Xe đỗ trên đoạn đường dốc phải được chèn bánh.

4. Người điều khiển phương tiện không được dừng xe, đỗ xe tại các vị trí sau đây:

a) Bên trái đường một chiều;

b) Trên các đoạn đường cong và gần đầu dốc tầm nhìn bị che khuất;

c) Trên cầu, gầm cầu vượt;

d) Song song với một xe khác đang dừng, đỗ;

đ) Trên phần đường dành cho người đi bộ qua đường;

e) Nơi đường giao nhau và trong phạm vi 5 mét tính từ mép đường giao nhau;

g) Nơi dừng của xe buýt;

h) Trước cổng và trong phạm vi 5 mét hai bên cổng trụ sở cơ quan, tổ chức;

i) Tại nơi phần đường có bề rộng chỉ đủ cho một làn xe;

k) Trong phạm vi an toàn của đường sắt;

l) Che khuất biển báo hiệu đường bộ.

Điều 19. Dừng xe, đỗ xe trên đường phố

Người điều khiển phương tiện khi dừng xe, đỗ xe trên đường phố phải tuân theo quy định tại Điều 18 của Luật này và các quy định sau đây:

1. Phải cho xe dừng, đỗ sát theo lề đường, hè phố phía bên phải theo chiều đi của mình; bánh xe gần nhất không được cách xa lề đường, hè phố quá 0,25 mét và không gây cản trở, nguy hiểm cho giao thông. Trường hợp đường phố hẹp, phải dừng xe, đỗ xe ở vị trí cách xe ô tô đang đỗ bên kia đường tối thiểu 20 mét.

2. Không được dừng xe, đỗ xe trên đường xe điện, trên miệng cống thoát nước, miệng hầm của đường điện thoại, điện cao thế, chỗ dành riêng cho xe chữa cháy lấy nước. Không được để phương tiện giao thông ở lòng đường, hè phố trái quy định".

Ngoài ra, Bộ luật dân sự 2015 quy định:

"Điều 596. Bồi thường thiệt hại do người dùng chất kích thích gây ra

1. Người do uống rượu hoặc do dùng chất kích thích khác mà lâm vào tình trạng mất khả năng nhận thức và làm chủ hành vi, gây thiệt hại cho người khác thì phải bồi thường.

2. Khi một người cố ý dùng rượu hoặc chất kích thích khác làm cho người khác lâm vào tình trạng mất khả năng nhận thức và làm chủ hành vi mà gây thiệt hại thì phải bồi thường cho người bị thiệt hại."

"Khoản 4, Điều 585. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại

4. Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra.

..."

Theo thông tin bạn cung cấp cho chúng tôi khi bạn đang điều khiển xe ba bánh trên đường, trong khi điều khiển xe chờ cho xe tải đi qua bạn đã dừng lại và đứng dừng xe sát lề đường khi chuẩn bị chạy thì có một chiếc moto khác đâm vào xe của bạn. Tuy nhiên bạn không nói rõ khi bạn dừng xe bạn có bật tín hiệu để báo cho các phương tiện khác biết hay chưa nên có 2 trường hợp xảy ra như sau:

Trường hợp 1: Khi bạn cho xe dừng sát với lề đường mà bạn đã có tín hiệu báo cho người điều khiển phương tiện khác biết thì bạn sẽ không bị xử phạt vi phạm hành chính.

Trường hợp 2: Khi bạn cho xe dừng sát với lề đường mà bạn không có tín hiệu báo cho người điều khiển phương tiện khác biết thì bạn sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính do không tuân thủ quy tắc về dừng đỗ xe.

Thời gian tạm giữ xe trong trường hợp này của bạn là không quá 7 ngày (Điều 82 Nghị định 100/2019/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt).

" Điều 82. Tạm giữ phương tiện, giấy tờ có liên quan đến người điều khiển và phương tiện vi phạm

1. Để ngăn chặn ngay vi phạm hành chính, người có thẩm quyền xử phạt được phép tạm giữ phương tiện tối đa đến 07 ngày trước khi ra quyết định xử phạt đối với những hành vi vi phạm được quy định tại các điều, khoản, điểm sau đây của Nghị định này và phải tuân thủ theo quy định tại khoản 2 Điều 125 của Luật Xử lý vi phạm hành chính."

Như đã phân tích ở trên do bạn không nói rõ khi bạn dừng đỗ xe bạn đã có tín hiệu báo cho người điều khiển phương tiện khác biết hay chưa nên về vấn đề bồi thường thiệt hại cũng có 2 trường hợp như sau:

Trường hợp 1: Khi bạn cho xe dừng sát với lề đường mà bạn đã có tín hiệu báo cho người điều khiển phương tiện khác biết mà bạn lại bị một anh say rượu điều khiển xe đâm vào bạn gây ra vụ tai nạn thì lúc này bạn sẽ được người điều khiển xe mô tô đâm vào bạn bồi thường thiệt hại cho bạn do dùng chất kích thích (Điều 598 Bộ luật dân sự 2015).

Trường hợp 2: Khi bạn cho xe dừng sát với lề đường mà bạn không có tín hiệu báo cho người điều khiển phương tiện khác biết mà bạn lại bị một anh say rượu điều khiển xe đâm vào bạn gây ra vụ tai nạn. Lúc này bạn cũng có lỗi do đó bạn có thể phải bồi thường cho người bị say rượu điều khiển xe đâm vào bạn, mức độ bồi thường sẽ tùy thuộc vào mức độ lỗi của các bên (Khoản 4 Điều 585 Bộ luật dân sự 2015).

>> Tham khảo ngay nội dung: Thủ tục khởi kiện về người gây tai nạn giao thông dẫn đến hậu quả chết người ?

>> Xem thêm:  Trình tự giải quyết tai nạn, va chạm giao thông được thực hiện thế nào ?

>> Xem thêm:  Trường hợp nào cảnh sát giao thông sẽ tạm giữ xe người vi phạm giao thông ?

4. Vấn đề bồi thường thiệt hại khi người gây tai nạn giao thông chưa có Giấy phép lái xe ?

Thưa luật sư, Mong luật sư tư vấn giúp trường hợp này: Trong khi đang chạy xe trên đường quốc lộ và là đường một chiều, có hai thanh niên cũng đi xe moto đi ngang qua nên đã xảy ra tai nạn.

Tôi bị thương không nặng lắm nhưng xe thì hư hại nghiêm trọng. Còn bên kia: người ngồi sau thì không bị gì,xe cũng bị nhẹ,nhưng người điều khiển thì bị gãy chân. Sau khi xuất viện chúng tôi đã gặp nhau để thỏa thuận cách xử lí. Bố của người đó nói là tôi phải bồi thường số tiền là 25 triệu đồng. Tôi đã trình bày vì hoàn cảnh khó khăn nên vay mượn khắp nơi cũng chỉ được 15 triệu đồng nhưng bên kia không đồng ý. Họ nói đem ra pháp luật trong khi đó người bị gãy chân chưa có bằng lái vì mới sinh năm 1997. Bố của người đó nói sẽ làm bằng trước khi ra pháp luật. Tôi muốn hỏi là:

Nếu ra trước pháp luật, tôi phải chịu bồi thường và được quyền lợi như thế nào?
Xin chân thành cảm ơn!

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty. Thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được giải đáp như sau:

Vì trong thắc mắc của bạn vẫn chưa trình bày đầy đủ các vấn đề liên quan đến hiện trường vụ tai nạn, nguyên nhân gây tai nạn như: đoạn đường xảy ra tai nạn có cho phép các xe đi ngang sang đường không? nếu cho phép thì có đèn báo hiệu không?... Do đó, chúng tôi chưa có đủ căn cứ để kết luận nguyên nhân gây tai nạn là do hành vi vi phạm trực tiếp của bên nào?

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại, theo quy định tại Điều 584 Bộ luật dân sự 2015 có quy định như sau:

Điều 584. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại
1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.
2. Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
3. Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này.

Theo như quy định trên và theo nguyên tắc của pháp luật nói chung, trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi có đủ các căn cứ sau:

- Có thiệt hại xảy ra: thiệt hại có thể là về tài sản; về tính mạng, sức khoẻ; về danh dự, nhân phẩm; và về tinh thần.

- Hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật: Quyền được bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, uy tín, tài sản là một quyền tuyệt đối của mọi công dân, tổ chức. Mọi người đều phải tôn trọng những quyền đó của chủ thể khác, không được thực hiện bất cứ hành vi nào "xâm phạm" đến các quyền đó. Việc "xâm phạm" mà gây thiệt hại có thể là hành vi vi phạm pháp luật hình sự, hành chính, dân sự, kể cả những hành vi vi phạm đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, vi phạm các quy tắc sinh hoạt trong từng cộng đồng dân cư...

- Có lỗi của người gây thiệt hại:

Cố ý gây thiệt hại là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc không mong muốn, nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra.

Vô ý gây thiệt hại là một người không thấy trước hành vi của mình có khả năng gây ra thiệt hại mặc dù phải biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây ra thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được.

- Có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi trái pháp luật: Trong Điều 604 BLDS có quy định rõ: người nào... xâm phạm... mà gây thiệt hại... thì phải bồi thường.

Như vậy, với trường hợp của bạn, nếu xác định được bên kia có lỗi trực tiếp gây ra tai nạn dẫn tới bạn bị thiệt hại (bị thương và xe bị hỏng nặng) thì bên kia có trách nhiệm phải bồi thường thiệt hại cho bạn. Bạn có thể yêu cầu bên kia phải bồi thường thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm theo Điều 609 BLDS và thiệt hại do tài sản bị xâm phạm (chiếc xe máy bị hỏng nặng) theo Điều 608 BLDS. Nếu bạn có hành vi vi phạm luật giao thông và là nguyên nhân trực tiếp gây thiệt hại cho bên kia thì bạn sẽ phải bồi thường.

>> Xem ngay: Xin hỏi về mức bồi thường trong tai nạn giao thông ?

>> Xem thêm:  Phải làm gì khi bị Cảnh Sát Giao Thông dừng xe ? Trách nhiệm bồi thường tai nạn giao thông

5. Hình phạt về việc vô ý gây tai nạn giao thông làm chết người?

Xin chào luật Minh Khuê! Tôi muốn nhờ luật sư tư vấn giúp tôi 1 việc như sau: Tôi có một người bạn lái xe ô tô (loại container) đang trên đường đi giao nhận hàng hóa,thì có gây tai nạn với xe máy làm chết 2 người,

Sau khi gây tai nạn bạn tôi có đi tới cơ quan công an tự thú và bị tạm giam để lấy lời khai. Về phần gia đình bị hại bên gia đình và doanh nghiệp đã bồi thường thiệt hại và cũng đi thăm hỏi,bên bị hại cũng đã viết giấy cam kết không khởi kiện nữa. Bạn tôi chưa có tiền án tiền sự nào,gia đình có công cách mạng,bản thân là bộ đội xuất ngũ (tiểu đội trưởng phục vụ 3 năm), đang có vợ và 2 con nhỏ đứa nhỏ mới 5 tháng tuổi đứa lớn 3 tuổi gia đình cũng khó khăn. Cơ quan công an kết luận là bạn tôi vi phạm chuyển làn đường thiếu quan sát về chuyển hướng và làn đường.

Như vậy luật sư có thể cho tôi biết bạn tôi có thể bị phạt tù bao lâu. Tôi xin cảm ơn luật sư. Trân trọng!

Hình phạt về việc vô ý gây tai nạn giao thông làm chết người?

Luật sư tư vấn tránh nhiệm khi xảy ra tai nạn giao thông, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng công ty luật Minh Khuê! Với câu hỏi của bạn chúng tôi xin phép được tư vấn như sau:

Thứ nhất: Bạn của tôi có thể bị khởi tố trách nhiệm hình sự không? thời hạn phạt tù?

Theo thông tin bạn cung cấp cho chúng tôi, hành vi trên được xác định là có lỗi gây thiệt hại xảy ra là chết người.

Theo quy định tại điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ gây ra thiệt hại :

Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ266
1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;
d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;
b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kích thích mạnh khác;
c) Bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;
d) Không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;
đ) Làm chết 02 người;
e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%:
g) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Làm chết 03 người trở lên;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;
c) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.
4. Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả quy định tại một trong các điểm a, b và c khoản 3 Điều này nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.
5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

- Về việc gia đình người bị hại đã viết giấy cam kết không khởi kiện nữa: Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 có quy định những vụ án hình sự chỉ khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại như sau:

Điều 155. Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại
1. Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.
2. Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.
3. Bị hại hoặc người đại diện của bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức.

Như vậy tội phạm theo Điều 260 BLHS thì không thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu của người bị hại nên khi có kết luận điều tra về tôi phạm nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì bạn của bạn sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi 2017.

Thứ 2: Bạn tôi chưa có tiền án tiền sự nào, gia đình có công cách mạng, bản thân là bộ đội xuất ngũ (tiểu đội trưởng phục vụ 3 năm), đang có vợ và 2 con nhỏ, đứa nhỏ mới 5 tháng tuổi, đứa lớn 3 tuổi gia đình cũng khó khăn. Nếu bị phạt tù có được giảm nhẹ tội không?

Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017 có quy định những tình tiết giảm nhẹ TNHS như sau:

Điều 51. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
1. Các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
a) Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm;
b) Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả;
c) Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;
d) Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết;
đ) Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội;
e) Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra;
g) Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra;
h) Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn;
i) Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;
k) Phạm tội vì bị người khác đe dọa hoặc cưỡng bức;
l) Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải do lỗi của mình gây ra;
m) Phạm tội do lạc hậu;
n) Người phạm tội là phụ nữ có thai;
o) Người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên;
p) Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng;
q) Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;
r) Người phạm tội tự thú;
s)14 Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;
t)15 Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án;
u) Người phạm tội đã lập công chuộc tội;
v) Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác;
x)16 Người phạm tội là người có công với cách mạng hoặc là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ.
2. Khi quyết định hình phạt, Tòa án có thể coi đầu thú hoặc tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ lý do giảm nhẹ trong bản án.
3. Các tình tiết giảm nhẹ đã được Bộ luật này quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ trong khi quyết định hình phạt.

Trong trường hợp này tòa sẽ dựa vào cơ sở pháp lý trên để xem xét các tình tiết giảm nhẹ và quyết định hình phạt.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Tham khảo thêm nội dung bài viết: Bị tai nạn giao thông trên đường đi làm có được hưởng bảo hiểm tai nạn lao động không?

>> Xem thêm:  Tư vấn về mức xử phạt hành chính khi gây tai nạn giao thông theo luật ?

6. Bồi thường thiệt hại khi va chạm tai nạn giao thông như thế nào ?

Xin chào Luật Minh Khuê, tôi có một vấn đề thắc mắc như sau, kính mong được luật sư tư vấn giải quyết: Em bị tai nại ngày 14/5/2016. Em chở theo người chị ngồi phía sau, trên đường quốc lộ 1A Địa phận huyện Bến Lức, Long An. Trên đường đi có 1 đoạn đang thi công cán nhựa phần làn đường trong.
Em nhìn kiếng chiếu hậu thấy ở phía sau có 1 chiếc container cách khoảng 300 - 400m cho đèn báo rẽ trái nhập làn oto tốc độ khoảng 55km/h đi khoảng 700 - 800m thì bất ngờ từ phía sau tông tới. Em bị gãy cổ chân phải. Người chị bị đa chấn thương. Lúc đó tài xế nhảy ra nhờ mọi người kéo ra khỏi gầm xe. Đưa lên bv Trợ Rẫy cấp cứu. Lúc đó bên đại diện nhà xe có vô ứng trước 5 triệu tiền mặt. Người đại diện đó thì có quen vs người nhà em nên cho họ về. Khi nào đóng viện phí thì nhà xe cũng có đóng nhưng mà hơi trễ. Khi chị em xuất viên bên nhà xe kêu ký bãi nại rồi bồi thường cho bên em 120 triệu. Mà chị em chưa có bình thường lại được, khoảng vài ba tháng nữa. Xin luật sư giải đáp giùm. Tài xế sinh năm 1991. Ngi ngờ chưa có giấy phép lái xe. Vì người nhà có lên coi biên bản thấy đổi tên tài xế và năm sinh khác với người gây tai nạn, trong CMND ghi năm sinh là 10/12/1998 sẽ bị phạt bao nhiêu?. Và có được bồi thường thêm khi thưa kiện không?
Xin cám ơn luật sư!

Bồi thường thiệt hại khi va chạm tai nạn giao thông như thế nào ?

Luật sư tư vấn luật hình sự trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào quý khách! cảm ơn quý khách hàng đã gửi câu hỏi về hộp thư tư vấn của chúng tôi, Vấn đề quý khách đang vướng mắc chúng tôi xin được tư vấn như sau:

1. Về khoản bồi thường tai nạn giao thông:

Theo quy định tại Điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015 thì:

Điều 590. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm
1. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm bao gồm:
a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;
b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;
c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại;
d) Thiệt hại khác do luật quy định.
2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp sức khỏe của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

Điều 585 Bộ luật dân sự 2015 quy định về nguyên tắc bồi thường thiệt hại như sau:

Điều 585. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại
1. Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình.
3. Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.
4. Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra.
5. Bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình.

Như vậy, mặc dù đã ký vào bản thỏa thuận nhận bồi thường 120 triệu đồng, nhưng khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế hoàn cảnh gia đình và các chi phí theo Điều 590 Bộ luật Dân sự 2015 thì chị gái bạn có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi mức bồi thường.

2/ theo thông tin bạn cung cấp, có thể hiểu chủ xe đã khai gian thông tin về tài xế thành một người khác.

Theo quy định tại Điều 260 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 thì

Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ266
1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;
d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;
b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kích thích mạnh khác;
c) Bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;
d) Không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;
đ) Làm chết 02 người;
e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%:
g) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Làm chết 03 người trở lên;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;
c) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.
4. Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả quy định tại một trong các điểm a, b và c khoản 3 Điều này nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.
5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Theo Nghị quyết 02/2003/NQ- HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS ngày 17/4/2003 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự thì: “4. Về các tình tiết "gây thiệt hại nghiêm trọng", "gây hậu quả rất nghiêm trọng", "gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng" quy định tại Điều 202 Bộ luật Hình sự được quy định như sau:

"4.1. Người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ nếu chỉ căn cứ vào thiệt hại xảy ra, thì gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 202 Bộ luật Hình sự:

a. Làm chết một người;

b. Gây tổn hại cho sức khoẻ của một đến hai người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên;

c. Gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 31%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 41% đến 100%;

d. Gây tổn hại cho sức khoẻ của một người với tỷ lệ thương tật từ 21% đến 30% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ ba mươi triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng;

đ. Gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người, với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 21%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 30% đến 40% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ ba mươi triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng;

e. Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng”

Mặc dù bạn không nêu rõ tỉ lệ thương tật của bạn và chị gái bạn là bao nhiêu, nhưng "Đa chấn thương còn được gọi là nhiều chấn thương nặng, do chấn thương, có hai hay nhiều thương tổn sọ não, chi hay nội tạng, trong số này ít nhất có một tổn thương nặng đe dọa đến tính mạng do suy hô hấp và tuần hoàn". Như vậy, hành vi của người tài xế đã cấu thành nên tội quy định tại Điều 202 BLHS. Nếu như người tài xế sinh năm 1991 đó chưa có giấy phép lái xe theo như thông tin bạn cung cấp thì mức phạt của anh ta sẽ căn cứ theo Điểm a Khoản 2 Điều 202 là phạt tù từ 03 - 10 năm. (Nghị quyết này vẫn áp dụng hướng dẫn cho Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017)

Về hành vi cung cấp sai thông tin của chủ xe, dù là lời khai của người làm chứng, của bị can, của người có quyền và nghĩa vụ liên quan hay của người bị hại thì cơ quan điều tra đều phải xác minh lời khai này có đúng sự thật hay không. Đối với những cá nhân này, dù khai báo sai hay đúng thì cơ quan điều tra vẫn phải xác minh lại sự thật, nhưng nếu người phạm tội khai báo một cách thành khẩn thì được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo Điều 51 Luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017.

Nếu khai báo sai sự thật thì có thể bị xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự về tội theo quy định tại Điều 382 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 :

Điều 382. Tội cung cấp tài liệu sai sự thật hoặc khai báo gian dối
1. Người làm chứng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật, người bào chữa nào mà kết luận, dịch, khai gian dối hoặc cung cấp những tài liệu mà mình biết rõ là sai sự thật, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:
a) Có tổ chức;
b) Dẫn đến việc giải quyết vụ án, vụ việc bị sai lệch.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:
a) Phạm tội 02 lần trở lên;
b) Dẫn đến việc kết án oan người vô tội hoặc bỏ lọt tội phạm hoặc người phạm tội395.
4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Đua xe trái phép sẽ bị xử lý như thế nào ? Mức xử phạt các lỗi vi phạm giao thông