- 1. Xương là gì?
- 2. Sự tiến hóa của người so với động vật thể hiện ở hệ cơ xương
- 3. Sự khác nhau giữa bộ xương người và bộ xương thú
- 3.1 Sự phát triển về hộp sọ
- 3.2 Tỉ lệ sọ/ mặt
- 3.3 Lồi cằm ở xương mặt
- 3.4 Cột sống
- 3.5 Lồng ngực
- 3.6 Chi trên
- 3.7 Chi dưới
- 4. Những đặc điểm bộ xương người thích nghi với tư thế đứng thẳng và đi bằng hai chân
- 5. Phương pháp để hệ cơ phát triển cân đối, xương chắc khỏe
1. Xương là gì?
Xương hay mô xương là các mô cứng có cấu tạo khác với các mô khác trong cơ thể. Xương là phần cứng của cơ thể, có nhiều hình dạng với các vai trò khác nhau, bao gồm hỗ trợ cấu trúc cơ thể, bảo vệ các cơ quan quan trọng và cho phép cơ thể di chuyển. Ngoài ra, bên trong xương chứa tủy xương với nhiệm vụ tạo ra các tế bào máu và lưu trữ các khoáng chất, đặc biệt là canxi.
Con người được sinh ra với khoảng 270 xương mềm. Khi trưởng thành và phát triển, một số xương sẽ hợp nhất lại với nhau. Do đó, khi đến tuổi trưởng thành, con người có khoảng 206 chiếc xương. Xương lớn nhất trong cơ thể là xương đùi và xương nhỏ nhất là xương bàn đạp ở tai giữa, chỉ dài khoảng 3 mm.
Thành phần chính của xương là protein collagen, tạo thành một khung mềm. Các khoáng chất cần thiết là canxi và photpho có nhiệm vụ làm cứng khung xương để tạo ra sức mạnh. Khoảng 99% lượng canxi trong cơ thể được tích trữ bên trong xương và răng.
Xương là khung cứng có nhiệm vụ nâng đỡ cơ thể. Tuy nhiên bên trong xương có cấu trúc tương tự như tổ ong, do đó xương tương đối nhẹ.
2. Sự tiến hóa của người so với động vật thể hiện ở hệ cơ xương
Nhờ có hệ cơ và xương tiến hóa giúp cho con người có tư thế đứng thẳng và thực hiện lao động. Sự củng cố dáng đi thẳng kéo theo những biến đổi hình thái của cột sống, lồng ngực, xương chậu... Đồng thời hai chi trước được giải phóng khỏi chức năng di chuyển để thực hiện chức năng cầm nắm dụng cụ lao động. Quá trình lao động thúc đẩy sự biến đổi hình thái mạnh mẽ dẫn tới những khác biệt lớn về bộ xương và hệ cơ.
Những biến đổi ở xương đầu là: hộp sọ phát triển chứa não với thể tích lớn, sọ lớn hơn mặt, trán dô, không còn gờ mày trên hốc mắt, xương hàm nhỏ, hình thành lồi cằm nơi bám cơ vận động lưỡi, góc quai hàm bé, răng bớt hô, răng nanh ít phát triển. Xương mặt nhỏ, xương đỉnh và xương chẩm phát triển dẫn tới vị trí đính của sọ trên cột sống đẩy dần về phía trước đảm bảo cân đối và thuận lợi cho sự vận động của đầu về bốn phía.
Cột sống cong ở 4 chỗ tạo thành hai hình chữ S nối tiếp nhau giúp cơ thể có tư thế đứng thẳng. Lồng ngực dẹp theo chiều trước sau và nở sang 2 bên. Đặc biệt, sự phân hóa của xương và khớp ở tay, chân khác xa động vật chính là kết quả của lao động và đứng thẳng trong lịch sử tiến hóa. Ở người, tay ngắn hơn chân; còn ở vượn thì ngược lại, tay dài hơn chân. Ở người, khớp vai linh động, xương cổ tay nhỏ, khớp cổ tay cấu tạo theo kiểu bầu dục, các khớp bàn tay, ngón tay cũng linh động, trong đó ngón cái có khả năng đối diện với tất cả các ngón, vì vậy bàn tay cầm nắm công cụ lao động dễ dàng. Khớp chậu - đùi có hố khớp sâu, vì vậy đảm bảo sự vững chắc, nhưng hạn chế vận động của đùi. Các khớp cổ chân, bàn chân khá chặt chẽ. Xương chậu nở rộng, xương đùi lớn, bàn chân có các ngón ngắn, ngón cái không úp vào các ngón khác, xương gót lớn kéo dài về phía sau, bàn chân hình vòm cũng là đặc điểm thích nghi với tư thế đứng thẳng. Dáng đi thẳng và lao động còn làm biến đổi cả hệ cơ. Chẳng hạn, các cơ mặt ở người phân hóa có khả năng biểu lộ tình cảm, trong khi cơ nhai có tác dụng đưa hàm dưới lên xuống, qua lại để nghiền thức ăn không phát triển mạnh như ở động vật (do người đã biết sử dụng thức ăn chín). Các cơ mông, cơ đùi, cơ cẳng chân lớn, khỏe, cử động chân chủ yếu là gập, duỗi. Các cơ ở tay phân hóa thành các nhóm cơ phụ trách các phần khác nhau của tay, cơ bàn tay phân hóa nhiều, cùng với khớp ở xương cổ tay và bàn tay linh hoạt làm cho cử động của tay phong phú như quay cánh tay, gập duỗi và xoay cẳng tay, bàn tay. Đặc biệt, sự phân hóa của các cơ cử động ngón cái khá hoàn chỉnh, riêng ngón tay cái có tới 8 cơ phụ trách vận động ngón cái, vì vậy sự cử động của bàn tay linh hoạt và thuận lợi cho việc sử dụng công cụ lao động.
3. Sự khác nhau giữa bộ xương người và bộ xương thú
| Các phần so sánh | Bộ xương người | Bộ xương thú |
| Tỉ lệ sọ não/ mặt | Lớn | Nhỏ |
| Lồi cằm xương mặt | Phát triển | Không có |
| Cột sống | Cong ở 4 chỗ, hình chữ S, cột sống đứng | Cong hình cung, cột sống ngang |
| Lồng ngực | Nở sang 2 bên | Nở theo chiều lưng - bụng |
| Xương chậu | Nở rộng | Hẹp |
| Xương đùi | Phát triển, khỏe | Bình thường |
| Xương bàn chân | Xương ngón ngắn, bàn chân hình vòm | Xương ngón dài, bàn chân phẳng |
| Xương gót (thuộc nhóm xương cổ chân) | Lớn, phát triển về phía sau | Nhỏ |
Bảng trên đã cho ta thấy, những đặc điểm khác nhau giữa bộ xương người và bộ xương thú về cột sống, lồng ngực, sự phân hóa xương tay và chân, đặc điểm về khớp ở tay và chân.
3.1 Sự phát triển về hộp sọ
Cùng với lao động thì hộp sọ của con người phát triển rất mạnh, chứa bộ não nặng gấp 3 lần so với loài thú có bộ não to nhất là khỉ đột.
3.2 Tỉ lệ sọ/ mặt
Trong 2 phần sọ và mặt thì phần mặt ít phát triển hơn và ngắn lại, còn phần sọ lại phát triển hơn bao trùm lấy phần mặt vì thế tỉ lệ sọ/ mặt của người nhỏ hơn tỉ lệ này ở thú.
3.3 Lồi cằm ở xương mặt
Hàm dưới của người có cằm phát triển và ngắn lại so với thú. Điều này có được là do sự rút ngắn hàm dưới và sự phát triển của cơ lưỡi. Góc hàm dưới nhỏ dần trong quá trình phát sinh chủng loại và phát triển cá thể. Ở động vật thì góc này rất tù thậm chí là 1 đường thẳng.
3.4 Cột sống
Có 4 chỗ uốn cong (cổ, ngực, thắt lưng, xương cùng) giúp cho việc đứng thẳng của con người được dễ dàng. Chịu đựng trọng lượng của đầu và tác dụng chấn động từ các chi dưới dồn lên lúc di chuyển.
3.5 Lồng ngực
Có số xương sườn ít, rộng sang 2 bên và hẹp theo hướng lưng bụng. Thú thì ngược lại. Dồn trọng lượng nội quan lên xương chậu và tạo cử động dễ dàng cho chi trên khi lao động.
3.6 Chi trên
Các chi trên nhỏ. Xương đai vai phát triển theo chiều ngang. Lồng ngực rộng ra hơn so với bộ xương Thú. Khớp vai linh động và chuyển động tự do trong phạm vi rộng thích hợp với hoạt động lao động của con người. Các khớp cổ tay cấu tạo theo kiểu bầu dục, ngón cái có khả năng đối diện với tất cả các ngón khác làm cho bàn tay có thể cầm nắm các dụng cụ lao động và thực hiện động tác lao động dễ dàng.
3.7 Chi dưới
Các chi dưới to khỏe, xương đùi khớp vào xương chậu cũng như các xương cổ chân khớp với nhau rất chặt chẽ. Xương gót chân lớn, xương bàn chân và xương gót kết hợp lại tạo thành một khung hình vòm chịu đựng trọng lượng các nội quan và cơ thể. Xương chân có xương bàn chân lớn và xương ngón chân ngắn, xương cẳng chân dài cùng các khớp linh động phù hợp với việc di chuyển trên đất.
4. Những đặc điểm bộ xương người thích nghi với tư thế đứng thẳng và đi bằng hai chân
- Cột sống cong ở 4 chỗ, xương chậu nở, lồng ngực nở sang hai bên.
- Xương tay có các khớp linh hoạt, ngón cái đối diện với 4 ngón còn lại.
- Xương chân lớn, bàn chân hình vòm, xương gót phát triển về phía sau.
5. Phương pháp để hệ cơ phát triển cân đối, xương chắc khỏe
- Có một chế độ dinh dưỡng hợp lí.
- Tắm nắng để cơ thể chuyển hóa tiền vitamin D thành vitamin D. Nhờ có vitamin D cơ thể mới chuyển hóa được canxi để tạo xương.
- Rèn luyện thân thể và lao động vừa sức. Để chống vẹo cột sống phải chú ý:
- Khi mang vác vật nặng, không nên vượt quá sức chịu đựng, không mang vác về một bên liên tục trong thời gian dài mà phải đổi bên. Nếu có thể thì phân chia làm 2 nửa để 2 tay cùng xách cho cân.
- Khi ngồi vào bàn học tập hay làm việc cần đảm bảo tư thế ngồi ngay ngắn, không cúi gò lưng, không nghiêng vẹo.
Trên đây, Luật Minh Khuê đã cung cấp cho bạn đọc toàn bộ những thông tin về sự khác biệt giữa bộ xương người so với bộ xương thú. Hi vọng những kiến thức trên có thể giúp ích cho các bạn trong quá trình tìm hiểu. Nếu có bất kỳ vướng mắc gì thì các bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi qua tổng đài tư vấn trực tuyến 1900.6162 để được giải đáp kịp thời. Luật Minh Khuê xin chân thành cảm ơn!