1. Những trường hợp nào bị dừng hưởng trợ cấp thất nghiệp?

Dựa vào Điều 53 của Luật Việc làm 2013, các trường hợp chấm dứt và tạm dừng trợ cấp thất nghiệp bao gồm:

- Kết thúc thời hạn nhận trợ cấp thất nghiệp;

- Tìm được việc làm mới;

- Thực hiện nghĩa vụ quân sự hoặc công an;

- Bắt đầu nhận lương hưu hàng tháng;

- Từ chối việc làm hai lần liên tiếp do trung tâm dịch vụ việc làm giới thiệu mà không có lý do chính đáng;

- Không thực hiện báo cáo tìm kiếm việc làm hàng tháng trong 03 tháng liên tiếp theo quy định tại Điều 52 của Luật;

- Định cư hoặc lao động ở nước ngoài theo hợp đồng;

- Học tập có thời hạn từ 12 tháng trở lên;

- Bị phạt vi phạm quy định về bảo hiểm thất nghiệp;

- Tử vong;

- Áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

- Bị tuyên bố mất tích bởi tòa án;

- Bị tạm giam hoặc chấp hành hình phạt tù.

Những người lao động chấm dứt trợ cấp thất nghiệp theo các điểm b, c, h, l, m và n có thể bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp để tính thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp cho lần sau, đúng theo quy định tại Điều 49 của Luật. Thời gian bảo lưu được tính bằng cách trừ thời gian đã nhận trợ cấp thất nghiệp từ tổng thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp, với mỗi tháng nhận trợ cấp thất nghiệp tương ứng với 12 tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp.

 

2. Cá nhân có được tiếp tục hưởng trợ cấp thất nghiệp khi thành lập hộ kinh doanh nhưng chưa kinh doanh hay không?

Theo điểm b khoản 1 của Nghị định số 28/2015/NĐ-CP (được sửa đổi bởi khoản 9 Điều 1 của Nghị định số 61/2020/NĐ-CP) hướng dẫn về việc chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp, các trường hợp người lao động đang nhận trợ cấp thất nghiệp bị chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp được quy định như sau:

Có việc làm:

Người lao động được xác định là có việc làm trong các trường hợp sau đây:

- Đã ký kết hợp đồng lao động, hợp đồng lao động theo mùa hoặc theo công việc nhất định có thời hạn từ 1 tháng trở lên. Ngày mà người lao động được xác định có việc làm là ngày hợp đồng lao động có hiệu lực theo quy định của pháp luật;

- Đã nhận quyết định tuyển dụng hoặc bổ nhiệm trong trường hợp không phải ký hợp đồng lao động hoặc hợp đồng lao động theo mùa. Ngày mà người lao động được xác định có việc làm trong trường hợp này là ngày ghi trong quyết định tuyển dụng hoặc bổ nhiệm;

- Đã có giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh nếu là chủ hộ kinh doanh hoặc giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp nếu là chủ doanh nghiệp. Ngày mà người lao động được xác định có việc làm là ngày người lao động thông báo với trung tâm dịch vụ việc làm về hoạt động kinh doanh của mình;

- Người lao động thông báo đã tìm được việc làm cho trung tâm dịch vụ việc làm. Ngày mà người lao động được xác định có việc làm là ngày ghi trong thông báo của họ.

Do đó, khi bạn thành lập hộ kinh doanh và có giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh, ngay cả khi chưa có thu nhập, bạn sẽ không tiếp tục đủ điều kiện để nhận trợ cấp thất nghiệp.

Do đó, theo quy định nêu trên, khi bạn có việc làm mới với tư cách là người đứng tên chủ hộ kinh doanh, bạn sẽ cần thông báo cho trung tâm dịch vụ việc làm, nơi đang nhận trợ cấp thất nghiệp, và kèm theo bản sao của giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh. Trong trường hợp gửi thông báo qua dịch vụ bưu điện, thì thời điểm xác định là theo ngày ghi trên dấu bưu điện. Bạn có thể thông báo về tình trạng tìm kiếm việc làm khi đang nhận trợ cấp thất nghiệp bằng một trong hai phương thức sau:

Phương thức 1: Trực tiếp tại Trung tâm dịch vụ việc làm mà bạn đã đăng ký hưởng trợ cấp thất nghiệp. Bạn chỉ cần điền đầy đủ thông tin vào mẫu Thông báo tìm kiếm việc làm hàng tháng, sau đó ký và ghi rõ họ tên trước khi gửi cho nhân viên tại trung tâm.

Phương thức 2: Gửi qua email. Bạn có thể thực hiện việc thông báo hàng tháng về tình trạng tìm kiếm việc làm qua email. Đây là cách thuận tiện và nhanh chóng mà không yêu cầu bạn phải đến trực tiếp Trung tâm dịch vụ việc làm. Chỉ cần bạn chụp ảnh mẫu thông báo tìm kiếm việc làm đã điền thông tin và gửi đến địa chỉ email của Trung tâm dịch vụ việc làm mà bạn đang nhận trợ cấp từ.

 

3. Bị chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp do thành lập hộ kinh doanh thì thời gian hưởng còn lại xử lý thế nào?

Tại khoản 5 của Điều 21 trong Nghị định số 28/2015/NĐ-CP (được sửa đổi bởi khoản 9 của Điều 1 trong Nghị định số 61/2020/NĐ-CP), đã được mô tả như sau:

Người lao động bị chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp theo các trường hợp quy định tại các điểm b, c, h, l, m và n của khoản 1 Điều này, thì thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp tương ứng với khoảng thời gian còn lại mà người lao động chưa nhận trợ cấp thất nghiệp sẽ được bảo lưu. Đây sẽ là cơ sở để tính thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp trong lần tiếp theo khi người lao động đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định, trừ trường hợp người lao động bị chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định tại điểm b, c, h của khoản 1 Điều này mà không thực hiện thông báo theo quy định tại khoản 2 Điều này.

Thời gian bảo lưu được tính bằng cách trừ đi thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp đã được nhận trợ cấp thất nghiệp. Nguyên tắc là mỗi tháng đã nhận trợ cấp thất nghiệp tương ứng với 12 tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp. Ngoài ra, cũng cần trừ đi những tháng lẻ chưa giải quyết hưởng trợ cấp thất nghiệp, được bảo lưu trong quyết định về việc hưởng trợ cấp thất nghiệp (nếu có).

Theo quy định, trong trường hợp chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp do việc thành lập hộ kinh doanh, thì thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp, tương ứng với khoảng thời gian còn lại mà người lao động chưa nhận trợ cấp thất nghiệp, sẽ được bảo lưu để làm căn cứ tính thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp trong lần tiếp theo khi người lao động đạt đủ điều kiện. Tuy nhiên, để được bảo lưu, người lao động cần thực hiện thông báo với trung tâm dịch vụ việc làm nơi đang nhận trợ cấp thất nghiệp, đồng thời phải kèm theo bản sao các giấy tờ liên quan đến quá trình chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp.

 

4. Quy định về trách nhiệm thông báo về việc tìm kiếm việc làm trong thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp

Dựa vào khoản 1 và khoản 2 của Điều 52 Luật Việc làm 2013, quy định về trách nhiệm thông báo về việc tìm kiếm việc làm trong thời gian nhận trợ cấp thất nghiệp như sau:

Trong thời gian nhận trợ cấp thất nghiệp, hàng tháng, người lao động có trách nhiệm thông báo trực tiếp với trung tâm dịch vụ việc làm nơi đang nhận trợ cấp thất nghiệp về quá trình tìm kiếm việc làm, trừ những tình huống sau đây:

(1) Trường hợp người lao động đang ốm đau, thai sản, hoặc tai nạn, miễn là có giấy xác nhận từ cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền, theo quy định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh;

(2) Trường hợp xảy ra những tình huống không thể kiểm soát được.

Đối với các trường hợp (1) và (2) được nêu trên, người lao động vẫn cần chịu trách nhiệm thông báo về tình hình của mình cho trung tâm dịch vụ việc làm mà họ đang nhận trợ cấp thất nghiệp.

Bài viết liên quan:

Có được hưởng trợ cấp thất nghiệp một lần khi nghỉ việc không? 

Đóng BHTN được 4 năm 4 tháng được hưởng bao nhiêu tháng trợ cấp thất nghiệp?

Trên đây là toàn bộ nội dung bài viết của Luật Minh Khuê về vấn đề: Cá nhân có được tiếp tục hưởng trợ cấp thất nghiệp khi thành lập hộ kinh doanh nhưng chưa kinh doanh không? Nếu quý khách hàng có bất kỳ vướng mắc nào về mặt pháp lý, Luật Minh Khuê xin tiếp nhận yêu cầu tư vấn của quý khách hàng qua số hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin trân trọng cảm ơn quý bạn đọc đã quan tâm theo dõi!