Chính vì vậy, bất cứ quốc gia nào chấp nhận con đường hội nhập kinh tế quốc tế đều phải chấp nhận ràng buộc mình với các cam kết quốc tế mà nội dung chủ yểu của các cam kết đo là dỡ bỏ các rào cản tự do hoá thương mại, trong đó có rào cản về thuế quan để thúc đẩy quá trình tự do hoá kinh tế toàn cầu. Trong quá trình đàm phán để gia nhập WTO, Việt Nam phải tham gia vào một số cam kết quốc tế song phương hoặc đa phương có liên quan đến vấn đề cắt giảm thuế quan và từng bước dỡ bỏ các rào cản phi thuế quan đối với thương mại quốc tế. Trên thực tế, bằng quyết tâm và nỗ lực của mình, Việt Nam đã tiến hành kí kết nhiều hiệp định thương mại song phương với một số nước, vùng lãnh thổ và tham gia vào một số đỉều ước quốc tế có liên quan đến vấn đề tự do hoá thương mại quốc tế. Các cam kết quốc tế này đều trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan vấn đề cắt giảm thuế quan đối với các nước thành viên và đòi hỏi các nước thành viên tham gia phải từng bước dỡ bỏ các rào cản phi thuế quan đối với hoạt động thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ và thương mậ đầu tư để tạo điều kiện cho thương mại quốc tể phát triển mà không gặp phải bất cứ trở ngại đáng kể nào.

1. Những cam kết cơ bản của Việt Nam về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu trong khuôn kho Hiệp định về ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT)

Nằm trong khu vực các nưởc được đánh giá là có nền kinh tế tăng trưởng với tốc độ nhanh nhất thế giới, Việt Nam đã trở thành một thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á (ASEAN) từ năm 1995. Ngay sau đó, Việt Nam cũng chính thức trở thành thành viên của Hiệp định về ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) và cam kết thực hiện lộ trình cắt giảm thuế quan trong vòng 10 năm liên tục, bắt đầu từ ngày 01/01/1996 đến khi hoàn thành là ngày 01/01/2006 để đạt được mức thuế suất cuối cùng là 0 - 5%.

Về nguyên tắc, để thực hiện mục tiêu cuối cùng là cắt giảm thuế quan xuống còn 0 - 5% đối với hầu hết các hàng hoá xuất nhập khẩu có nguồn gốc từ các nước thành viên ASEAN vào đầu năm 2006, Việt Nam phải cam kết thực hiện lộ trình cắt giảm thuế quan như sau:(1)

Một là, phải xác định rõ danh mục các mặt hàng thực hiện giảm thuế theo Hiệp định về ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) bao gồm: danh mục giảm thuế ngay (IL); danh mục loại trừ tạm thời (TEL); danh mục hàng nông sản chưa chế biến nhạy cảm (SL); danh mục loại trừ hoàn toàn (GEL).

Hai là, các mặt hàng thuộc danh mục giảm thuế ngay (IL) sẽ bắt đầu giảm thuế từ ngày 01/01/1996 và kết thúc với thuế suất 0 - 5% vào ngày 01/01/2006. Trong danh mục này, các mặt hàng có thuế suất trên 20% phải giảm xuống còn 20% vào ngày 01/01/2001. Còn các mặt hàng có thuế suất bằng hoặc thấp hơn 20% thì sẽ giảm xuống còn 0 - 5% vào ngày 01/01/2003.

Ba là, các mặt hàng thuộc danh mục loại trừ tạm thời (TEL) sẽ được chuyển sang danh mục IL trong vòng 5 năm, từ ngày 01/01/1999 đến ngày 01/01/2003 để thực hiện giảm thuế với thuế suất cuối cùng đạt được là 0 - 5% vào ngày 01/01/2006. Theo cam kết, mỗi năm Việt Nam sẽ đưa 20% số mặt hàng thuộc danh mục loại trừ tạm thời (TEL) vào danh mục IL đồng thời các bước giảm sau khi đã chuyển sang danh mục IL phải được thực hiện chậm nhất là 2-3 năm một lần và mỗi lần giảm không thấp hơn 5%.

Bốn là, các mặt hàng thuộc danh mục nhạy cảm (SL) sẽ bắt đầu giảm thuế từ ngày 01/01/2004 và kết thúc vào ngày 01/01/2013, với thuế suất cuối cùng là 0-5%.

Năm là, các mặt hàng đã đưa vào chương trình giảm thuế và được hưởng nhượng bộ thì phải bỏ ngay các quy định về hạn chế số lượng (QRs) và bỏ dần các biện pháp phi thuế quan khác (NTBs) trong thời hạn 5 năm sau đó.

2. Những cam kết cơ bản của Việt Nam về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu trong khuôn khổ Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ

Cùng với việc gia nhập khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) và cam kết thực hiện lộ trình cắt giảm thuế quan theo CEPT, Việt Nam cũng triển khai tiến trinh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng bằng việc kí kết Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ (được kí kết ngày 13/7/2000 và bắt đẩu có hiệu lực từ ngày 10/12/2001), làm cơ sở và tiền đề cho việc gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WT0) ưong thời gian sớm nhất. Hiệp định này được kí kết dựa ưên những nguyên tắc căn bản của WTO nên có thể coi là một khuôn mẫu pháp lí cần thiết, hữu ích cho Việt Nam trong quá trình đàm phán để gia nhập WTO trong bối cảnh thế giới đương đại. Với ý nghĩa là một cam kết thương mại song phương, các chuẩn mực pháp lí của Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ liên quan đến nhiều vấn đề khác nhau trong lĩnh vực thương mại như vấn đề thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ, thương mại đầu tư và quyền sở hữu trí tuệ. Trong số các vấn đề pháp lí được quy định tại Hiệp định này thì chính sách thuế quan chỉ được đề cập như một vấn đề nhỏ trong lĩnh vực thương mại hàng hoá. Xem: Điều 3, Điều 3.6 Chương I và Phụ lục E Hiệp định thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ.

Một cách khái quát thì những cam kết quốc tế của Việt Nam về vấn đề thuế quan trong Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ bao gồm các nội dung cơ bản sau đây:

- Về đối xử tối huệ quốc (MFN), Việt Nam cam kết dành cho Hoa Kỳ chế độ đối xử tối huệ quốc trong thương mại hàng hoá theo nguyên tắc có đi có lại. Nghĩa là, các bên dành cho hàng hoá của nhau sự đối xử như sự đối xử họ dành cho hàng hoá tương tự do các nước khác sản xuất, trong đó có vấn đề đối xử về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu. Ví dụ, nểu một nước thứ ba đàm phán với Việt Nam về một dòng thuế nhập khẩu với mức thuế suất thấp hơn mức đã được quy định trong Hiệp định thì nguyên tắc đối xử tối huệ quốc (MFN) đòi hỏi Việt Nam cũng phải dành cho các công ty Hoa Kỳ sự đối xử tương tự rihư vậy về thuế suất đối với các hàng hoá tương tự được nhập khẩu từ Hoa Kỳ. Nguyên tắc này được quy định tại Điều 1 Chương I Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ.

- Về đối xử quốc gia, Việt Nam và Hoa Kỳ cam kết dành cho hàng hoá nhập khẩu của nhau sự đối xử không kém phần thuận lợi hơn so với hàng hoá tương tự có nguồn gốc ttong nước. Trên thực tế, nguyên tắc này ít liên quan đến thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu mà chủ yếu liên quan đến các loại thuế nội địa như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế thu nhập doanh nghiệp hay các loại lệ phí và phí nội địa đánh vào các sản phẩm tương tự có nguồn gốc ttong nước và nguồn gốc nhập khẩu. Tuy nhiên, tại Điều 2.1 Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, nguyên tắc này được quy định với nội dung đòi hỏi mỗi bên phải đỉều hành các biện pháp thuế quan và phi thuế quan có ảnh hưởng đến thương mại để tạo cho hàng hoá của bên kia những cơ hội cạnh ưanh có ý nghĩa đối vói các nhà cạnh ttanh trong nước, nhằm tránh sự phân biệt đối xử vợi mục đích thực hiện ý đồ bảo hộ sản xuất trong nước.

- Về vấn đề định giá tính thuế hải quan đối với hàng hoắ nhập khẩu, Việt Nam và Hoa Kỳ cam kết trong vòng hai năm kể từ ngày Hiệp định có hiệu lực, việc xác định trị giá hải quan đối với hàng hoá nhập khẩu giữa hai nước se được thực hiện theo các tiêu chuẩn dược thiết lập bởi Hiệp định về định giậ hải quan của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) nhằm thi hành Điều VII của GATT năm 1994. vấn đề này được quy định tại Chương I, Điều 3.4 và 3.5 Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ.

- Về vấn đề cắt giảm thuế-quan, Việt Nam-cam kết sẽ cắt giảm thuế nhập khẩu đối với một số hàng hoá nhập khẩu có xuất xứ từ Hoa Kỳ sau ba năm và một số hàng hoá khác là sau sáu năm kể từ ngày Hiệp định có hiệu lực. Xem: Điều 3.6 Chương I và Phụ lục E Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ.

Trên nguyên tắc, những cam kết này sẽ được thực hiện theo lộ trình thích hợp và được công bố bởi Chính phủ mỗi bên, trên cơ sở từng bước hoàn thiện các quy định pháp lí trong hệ thống pháp luật quốc gia để đảm bảo thực hiện cam kết quốc tế có liên quan đến vấn đề thuế xuất khẩu và thuế nhập khẩu.

3. Những cam kết cơ bản của Việt Nam về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu trong khuôn khổ Hiệp định WTO

Giống như Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, các cam kết về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu của Việt Nam trong khuôn khổ WTO cũng bao gồm những nội dung sau:

Thứ nhất, Việt Nam cam kết ràng buộc thuế quan đối với khoảng 10.600 dòng thuế theo mức độ cam kết là toàn bộ biểu thuế. Mức giảm thuế bình quân toàn biểu thuế là khoảng 23% (từ mức là 17,4% năm 2006 xuống còn 13,4%, thực hiện dần trong vòng 5-7 năm), số dòng thuế cam kết giảm khoảng 3.800 dòng (chiếm 35,5% số dòng của biểu thuế); nhóm mặt hàng có cam kết cắt giảm thuế nhiều nhất bao gồm: dệt may, cá và sản phẩm cá, gỗ và giấy, hàng chế tạo khác, máy móc thiết bị điện-điện tử, thịt (lợn, bò), phụ phẩm, số dòng thuế giữ ở mức thuế hiện hành (cam kết không tăng thêm) là khoảng 3.700 dòng (chiếm 34,5% số dòng của biểu thuế), số dòng thuế ràng buộc theo mức thuế trần (cao hơn mức thuế suất hiện hành với 3.170 dòng thuế (chiếm 30% số dòng của biểu thuế), chủ yếu là đối vói các nhóm hàng như xăng dầu, kim loại, hoá chất, một số phương tiện vận tải.

Thứ hai, Việt Nam cam kết mức giảm thuế nhập khẩu đối với nông sản trong khuôn khổ WTO với mức giảm thuế trung bình là khoảng 10% (từ mức bình quân 25,2% năm 2006 đến mức cắt giảm cuối cùng bình quân 21%). Áp dụng hạn ngạch thuế quan đối vói 4 nhóm hàng gồm trứng, đường, thuốc lá, muối (mức thuế trong hạn ngạch tương đương mức thuế MFN hiện hành trứng 40%, đường thô 25%, đường tinh 50 - 60%, thuốc lá lá 30%, muối ăn 30%), thấp hơn nhiều so với mức thuế ngoài hạn ngạch.

Ngoài ra, trong thời gian tới, sau khi Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) được Quốc hội phê chuẩn, Việt Nam sẽ chính thức thực hiện các cam kết này, trong đó có các nội dung cam kết về cắt giảm thuế quan nhằm thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa tiến trình tự do hoá thương mại giữa các nước thành viên của TPP.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập từ các nguồn trên internet)