- 1. Khái niệm đình công
- – Đình công nhằm để đạt được mục đích, lợi ích nhất định
- – Đình công là ngừng việc tạm thời
- – Đình công có tính tổ chức
- – Đình công được thực hiện trên tinh thần tự nguyện của người lao động
- 2. Các dấu hiệu đình công
- 3. Phân loại một số loại đình công cơ bản
- 3.1. Căn cứ vào các quy định của pháp luật về đình công
- 3.2. Căn cứ vào phạm vi đình công
- 3.3. Căn cứ vào tính chất cuộc đình công
- 3.4 Căn cứ vào mục đích đình công
- 4.Một số giải pháp thúc đẩy quan hệ lao động lành mạnh và hạn chế đình công ở nước ta
1. Khái niệm đình công
Điều 198 Bộ luật lao động năm 2019 có quy định về đình công như sau
Đình công là sự ngừng việc tạm thời, tự nguyện và có tổ chức của người lao động nhằm đạt được yêu cầu trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động và do tổ chức đại diện người lao động có quyền thương lượng tập thể là một bên tranh chấp lao động tập thể tổ chức và lãnh đạo
- Dưới góc độ kinh tế, đình công là một biện pháp đấu tranh kinh tế được thực hiện bởi những người lao động; nhằm gây sức ép đối với người sử dụng lao động; để đạt được những yêu cầu, yêu sách mà người lao động đưa ra….
- Dưới góc độ xã hội, đình công gây ra những ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội; xét về tính chất và quy mô, đình công có tác động không nhỏ đến trật tự an toàn xã hội đối với khu vực có đình công xảy ra,…
* Đặc điểm của đình công
– Đình công nhằm để đạt được mục đích, lợi ích nhất định
Tập thể người lao động chỉ được phép đình công khi có những tranh chấp lao động xảy ra mà ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi. Vì thế, bản chất của đình công là việc đòi hỏi quyền, lợi ích hợp pháp cho người lao động từ người sử dụng lao động. Việc thực hiện đình công là biện pháp để người sử dụng lao động thực hiện đúng nghĩa vụ của mình và thỏa mãn được quyền lợi của người lao động.
– Đình công là ngừng việc tạm thời
Đình công diễn ra nhằm đòi lại quyền lợi cho người lao động, và nếu quyền lợi đó được đáp ứng thì người lao động sẽ quay trở lại làm việc bình thường. Bên cạnh đó, đình công không làm mất đi quan hệ lao động và được diễn ra với quy mô lớn. Chính vì vậy đình công chỉ mang tính chất tạm thời.
– Đình công có tính tổ chức
Đình công luôn được thực hiện bởi tập thể người lao động, được sự tổ chức và lãnh đạo của Ban Chấp hành công đoàn.
– Đình công được thực hiện trên tinh thần tự nguyện của người lao động
Việc tham gia đình công đòi hỏi quyền, lợi ích chính đáng luôn mang tính tự nguyện bởi nó là quyền của cá nhân người lao động nói riêng và tập thể người lao động nói chung. Người lao động không bị bắt buộc, cưỡng ép tham gia đình công.
2. Các dấu hiệu đình công
- Thứ nhất, đình công là sự ngừng việc tạm thời của đông người lao động.
Đây là dấu hiệu cơ bản và quan trọng nhất giữ vị trí trung tâm, liên kết các dấu hiệu khác tạo nên hiện tượng đình công.
Sự ngừng việc được hiểu là phản ứng của người lao động (những người cùng làm việc cho 1 người sử dụng lao động trong phạm vi: Cả đơn vị, doanh nghiệp hoặc một bộ phận nằm trong doanh nghiệp) bằng cách tạm dừng việc, không xin phép người sử dụng lao động, trong khi biết trước là không được sự đồng ý của người lao động, nhưng người lao động không bị xử lý kỷ luật vì đây là quyền của họ nếu đó là cuộc đình công hợp pháp.
Sự ngừng việc này mang tính tạm thời: chỉ diễn ra trong một thời gian nhất đinh, khi đạt được yêu sách người lao động sẽ quay trở lại làm việc. Trong thời gian đình công thì quan hệ lao động vẫn sẽ tồn tại.
Mức độ ngừng làm việc mang tính “triệt để”, ngừng việc hoàn toàn: Những người tham gia đình công không làm bất cứ công việc nào thuộc quan hệ lao động trong thời gian đình công, không thực hiện hành vi lao động. Các trường hợp là nghỉ việc lẻ tẻ, làm việc cầm chừng, làm việc không hết công suất máy móc, thời gian làm việc,...thì không được coi là đình công và người lao động có thể sẽ bị xử lý kỷ luật.
- Thứ hai, đình công phải thể hiện sự tự nguyện của NLĐ. Tự nguyện được hiểu là người lao động được quyền quyết định và họ tự do ý chí của mình trong việc quyết định ngừng việc, tham gia đình công mà không bị người khác xúi giục, bắt buộc, cưỡng ép ngừng việc.
- Thứ ba, đình công luôn có tính tập thể.
Đình công là quyền của người lao động nhưng thực hiện đình công bao giờ cũng là hành vi mang tính tập thể. Tính tập thể phải được biểu hiện qua cả các yếu tố định tính và định lượng.
+ Về yếu tố định lượng: biểu hiện ở số lượng có nhiều người lao động (toàn bộ hoặc đa số những người cùng làm việc cho 1 người sử dụng lao động trong phạmvi: cả đơn vị, doanh nghiệp hoặc một bộ phận nằm trong doanh nghiệp) cùng tham gia ngừng việc.
+ Về yếu tố định tính: ý chí của cá nhân và tập thể phải có sự trùng hợp, họ cùng chung ý chí, họ phải có sự kết hợp lại với nhau, họ phải cùng chung mục đích và hành động; ở tính đại diện của những người đó cho những người khác không tham gia đình công nhằm đạt được những lợi ích chung hoặc những nguyên tắc chung về quyền lợi trong quan hệ lao động.
Tính tập thể (gồm yếu tố định tính và định lượng) là điều kiện đảm bảo thắng lợi cho đình công, đảm bảo tính hợp pháp cho sự ngừng việc của mỗi người lao động.
- Thứ tư, đình công luôn có tính tổ chức.
Tính tổ chức được biểu hiện bằng sự có chủ định, có phối hợp, thống nhất về mặt ý chí, mục đích và hành động trong phạm vi tập thể người lao động ngừng việc. Điều đó có nghĩa là khi chuẩn bị và tiến hành đình công luôn có sự tổ chức, lãnh đạo, điều hành thống nhất của một hay một số người và có sự chấp hành, phối hợp thực hiện của những người khác trong phạm vi đình công. Việc tổ chức và lãnh đạo đình công do tổ chức đại diện người lao động có quyền thương lượng tập thể là một bên tranh chấp lao động tập thể tiến hành. Đây cũng là một trong những điều kiện để xét tính hợp pháp của cuộc đình công.
3. Phân loại một số loại đình công cơ bản
Việc phân loại đình công không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận, nhận thức mà còn giúp cho quá trình điều chỉnh vấn đề đình công và giải quyết đình công hiệu quả. Tùy theo mục đích nghiên cứu mà có thể phân loại đình công theo những hình thức khác nhau:
3.1. Căn cứ vào các quy định của pháp luật về đình công
- Đình công hợp pháp: là đình công tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật. Mục đích cơ bản của các quy định này để nhà nước kiểm soát đình công, hạn chế
những cuộc đình công không cần thiết hoặc có tính chất tiêu diệt dối phương, hoặc ảnh hướng lớn đến nền kinh tế quốc dân, an ninh quốc phòng,..
- Đình công bất hợp pháp: là đình công không thực hiện đầy đủ, không thực hiện đúng các quy định của pháp luật.
3.2. Căn cứ vào phạm vi đình công
- Đình công doanh nghiệp: là những cuộc đình công do tập thể lao động trong phạm vi một doanh nghiệp tiến hành. Đây là loại đơn vị thường xảy ra đình công, cũng là phạm vi đình công thường được pháp luật thừa nhận.
- Đình công bộ phận: là những cuộc đình công do tập thể lao động trong một bộ phận cơ cấu của doanh nghiệp (hoặc của đơn vị sử dụng lao động) tiến hành.
- Đình công ngành, khu vực: là những cuộc đình công của những người lao động trong phạm vi một ngành, một khu vực tiến hành
- Tổng đình công: là những cuộc đình công của những người lao động trong phạm
vi nhiều ngành hoặc nhiều khu vực trong toàn quốc tiến hành.
3.3. Căn cứ vào tính chất cuộc đình công
- Đình công kinh tế: là những cuộc đình công nhằm gây sức ép với bên sử dụng lao động hoặc chủ thể khác để đạt được những mức độ lớn hơn về quyền và lợi ích trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, nghề nghiệp... như việc làm, tiền lương, thu nhập, điều kiện lao động,.. và các quyền lợi khác liên quan đến QHLĐ.
- Đình công chính trị: là những cuộc đình công nhằm gây sức ép để phản đối chính quyền nhà nước hoặc các đảng phái chính trị, cầm quyền hay đối lập nhằm đạt được các mục đích chính trị mà người đình công quan tâm
3.4 Căn cứ vào mục đích đình công
- Đình công yêu sách: là những cuộc đình công nhằm đạt được một hoặc một số yêu sách về quyền và lợi ích cho chính những NLĐ tham gia đình công.
- Đình công hưởng ứng: là những cuộc đình công nhằm ủng hộ, tỏ thái độ đồng tình để hỗ trợ cho cuộc đình công khác trong khi những người tham gia đình công (hưởng ứng) không có yêu sách về quyền và lợi ích cho mình.
4.Một số giải pháp thúc đẩy quan hệ lao động lành mạnh và hạn chế đình công ở nước ta
- Việc tham gia công đoàn của công nhân là hoàn toàn tự nguyện, những người tham gia công đoàn buộc phải đóng công đoàn phí;
- Việc bầu Ban Chấp hành công đoàn cơ sở phải dựa trên tín nhiệm thực sự của công nhân, khuyến khích công nhân bầu những người thực sự có uy tín và nhiệt huyết để họ lựa chọn được “thủ lĩnh” thật sự làm Chủ tịch công đoàn cơ sở. Không kết nạp những người giữ vị trí quản lý (cấp trưởng phòng trở lên) vào Công đoàn đối với các doanh nghiệp không thuộc sở hữu nhà nước vì thực chất, họ là những người đại diện cho giới chủ;
- Ban Chấp hành công đoàn cơ sở, đặc biệt là Chủ tịch công đoàn cần được cấp phí hoạt động công đoàn theo nguồn trích từ công đoàn phí của công đoàn viên để khuyến khích sự hoạt động của họ.