1. Tham nhũng là gì? 

Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi.

Các hành vi tham nhũng trong khu vực nhà nước do người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước thực hiện bao gồm :

- Tham ô tài sản.

- Nhận lối lộ.

- Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản.

- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi.

- Lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi.

- Giả mạo trong công tác vì vụ lợi.

- Đưa hối lộ, môi giới hối lộ để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương vì vụ lợi.

- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản công vì vụ lợi.

- Nhũng nhiễu vì vụ lợi.

- Không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc không đầy đủ nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi.

- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che cho người có hành vi vi pháp luật vì vụ lợi; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc giám sát, kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi.

Các hành vi tham nhũng trong khu vực ngoài nhà nước do người có chức vụ, quyền hạn trong doanh nghiệp , tổ chức khu vực ngoài nhà nước nước thực hiện bao gồm:

- Tham ô tài sản.

- Nhận hối lộ.

- Đưa hối lộ, mối giới hối hộ để giải quyền công việc của doanh nghiệp, tổ chức mình vì vụ lợi.

 

2. Đặc điểm của hành vi tham nhũng

Tham nhũng có các đặc điểm sau :

- Người có chức vụ, quyền hạn thực hiện hành vi tham nhũng, gồm:

+ Cán bộ, công chức, viên chức.

+ Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật, công nhân công an trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân.

+ Người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

+ Người giữ chức danh, chức vụ quản lý trong doanh nghiệp, tổ chức.

+ Những người khác được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ và có quyền hạn trong khi thực hiện hiện nhiệm vụ, công vụ đó.

- Mục đích các hành vi tham nhũng là vì lợi ích riêng.Người chức vụ, quyền lại đã lợi dụng chức vụ,quyền hạn nhằm đặt được lợi ích vật chất hoặc lợi ích phi vật chất không chính đáng.

 

3. Các giai đoạn phát triển của pháp luật về phòng, chống tham nhũng ở nước ta từ năm 1945 đến nay.

* Pháp luật về phòng, chống tham nhũng từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước trước có Pháp lệnh chống tham nhũng năm 1988.

- Văn bản pháp luật đầu tiên đánh dấu sự ra đời của pháp luật phòng, chống tham nhũng là Sắc lệnh số 64/SL ngày 23/11/1945 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành về việc thành lập Ban Thanh tra đặc biệt với chức năng hết sức rõ ràng, đó là giám sát, kiểm soát hoạt động của các cơ quan chính quyền và nhân viên Nhà nước.Điều 1 Sắc lệnh có quy định " Chính phủ sẽ lập ngay một Ban thanh tra đặc biệt, có ủy nhiệm là đi giám sát tất cả các công việc và các nhân viên của Ủy ban nhân dân và các cơ quan của Chính phủ."

- Vào ngày 27/11/1946, chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục ký ban hành Sắc lệnh 223/SL quy định về việc trừng trị các tội đưa , nhận hối lộ, phù lạm và biển thủ công quỹ.

- Sau kháng chiến chống thực dân Pháp, xây dựng chủ nghĩa ở nghĩa xã hội hội ở miền Bắc, nhà nước ta tiếp tiếp chú trọng ban hành nhiều văn bản luật nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc phòng, chống tham nhũng như: Quyết định định 207/HĐCP ngày 6/4/1962 của Hội đồng Chính phủ về việc thành lập Ban chỉ đạo Trung  ương cuộc vận động nâng cao ý thức, trách nhiệm, tăng cường quản lý kinh tế, tài chính, chống tham ô, lãng phí quan liêu.

 - Bộ luật hình sự năm 1985 được Quốc hội ban hành vào ngày 27/6/1985 ( được sửa đổi, bổ sung 4 lần vào các năm 1989, 1991, 1992 và 1997 ) được coi là dấu mốc quan trọng thể hiện chính sách hình sự nhất quán của Nhà nước về tội phạm nói chung, tham nhũng nói riêng.

-  Ngày 26/6/1990 Quyết định 240/HĐBT đã ra đời đánh dấu sự phát triển của pháp  luật phòng , chống tham nhũng, thuật ngữ " tham nhũng " chính thức được sử dụng trong văn bản pháp luật của nhà nước.

- Một số văn bản sau năm 1990 tạo nền tảng nhằm nâng cao nhận thức về tham nhũng như :
+ Nghị quyết của Quốc hội ngày 30/12/1993 về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, chống tham nhũng , chống buôn lậu.

+ Nghị quyết số 176/NQ của Quốc hội ngày 16/3/1994 ban hành Quy chế phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước trong chỉ đạo và tổ chức thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, chống tham nhũng, chống buôn lậu.

+ Quyết định sô 240/HĐBT ngày 26/6/1990 của Hội đồng Bộ trưởng.

+ Quyết định số 114/TTg ngày 21/11/1992 của Thủ tướng Chính phủ về những biện pháp cấp bách nhằm ngăn chăn và bài trừ tệ tham nhũng và buôn lậu.

+ Quyết định số 35/TTg ngày 19/01/1996 cũng được ban hành trong khoảng thời gian này.

+ Chỉ thị 416/CT ngày 3/12/1990 của Chủ tịch Hồi đồng Bộ trường về việc tăng cường công tác thanh tra, điều tra xử lý các việc tham nhũng và buôn lậu.

+ Chỉ thị số 08/CT-TATC ngày 6/12/1990 của Tòa án dân tối cao về việc triển khai chống tham nhũng, chống buôn lậu qua biên giới và một số loại tội phạm kinh tế.

+ Chỉ thị 171/TTg ngày 16/12/1992 của Thủ trưởng Chính phủ về chống tham nhũng, lãng phí và thất thoát trong xây dựng.

* Pháp luật về phòng, chống tham nhũng kể từ khi Pháp lệnh Chống tham nhũng được ban hanh cho tới nay

- Ngày 26/2/1998, Pháp lệnh phòng chống tham nhũng được ban hành.

- Ngày 21/12/1999 Bộ luật hình sự 1999 ban hành trong đó có quy định nhóm nhũng gồm 7 tội danh.

- Ngày 29/11/2005 tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật phòng, chống tham nhũng thay cho Pháp lệnh chống tham nhũng. 

- Luật phòng, chống tham nhũng 2005 gồm có 8 chương, 92 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/6/2006, xác định nguyên tắc xử lý hành vi tham nhũng:

+  Mọi hành vi tham nhũng đều phải được phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời, nghiêm minh.

+ Người có hành vi tham nhũng ở bất kỳ cương vị, chức vụ nào phải xử lý theo quy định của pháp luật.

+ Tài sản tham nhũng phải được thu hồi, tịch thu; người có hành vi tham nhũng gây thiệt hại thì phải bồi thường, bồi hoàn theo quy định của pháp luật.

+ Người có hành vi tham nhũng đã chủ động  khai báo trước khi bị phát hiện , tích cực hạn chế thiết hại do hành vi trái pháp luật của mình gây ra, tự giác nộp lại tài sản tham nhũng thì có thể được xem xét giảm nhẹ hình thức kỷ luật, giảm nhẹ hình phạt hoặc miễn truy cứu trách nhiệm hình theo quy định của pháp luật.

+ Việc xử lý tham nhũng pham nhũng phải được thực hiện công khai theo quy định của pháp luật.

+ Người có hành vi tham nhũng đã nghỉ hưu, thôi việc, chuyển công tác vẫn phải bị xử lý về hành vi tham nhũng do mình đã thực hiện.

-  Sau một thời gian thực hiện Luật phòng, chống tham nhũng 2005 nhận thấy cần phải sửa đổi bổ sung để phù hợp với quan điểm mới, phù hợp với thực tiến, khắc phục những thiếu sót mà thực tế phản ánh thì vào năm 2007 và 2012 Quốc hội đã thông qua việc sửa đổi Luật phòng, chống tham nhũng 2005.

- Hiến pháp 2013 có hiệu lực 1/1/2014 trở thành cột mốc mới đánh dấu sự phát triển, tiến bộ của pháp luật Việt Nam.

- Cùng với Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 các luật như: Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2005; Luật Cán bộ, công chức năm 2008; Luật viên chức 2010; Luật thanh tra năm 2010; Luật khiếu nại năm 2011; Luật tố cáo năm 2011; Luật sửa đổi, bổ sung một số số Điều tại Luật phòng, chống tham nhũng năm 2012; Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2013; Bộ luật Hình sự năm 2015; Luật tiếp cận thông tin năm 2016; Luật báo chí năm 2016; Luật tiếp công dân năm 2013... và các nghị định hướng dẫn thi hành của Chính phủ, các Nghị quyết của Quốc hội, Quyết định của Thủ tướng chính phủ, các thông tư hướng dẫn của các thanh tra Chính phủ và các bộ, ngành, địa phương đã tạo ra một hành lang pháp lý tương đối toàn diện về phòng, chống tham nhũng.

- Ngày 1/7/2019 có hiệu lực Luật phòng, chống tham nhũng 2018, việc xây dựng luật phòng chống tham nhũng năm 2018 đã khắc phục những hạn chế, bất cập trong suốt 12 năm thi hành Luật phòng chống tham nhũng năm 2005.

- Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 có quy định  về quy định  về các tội danh về tham nhũng.

Trên đây là một số vấn đề liên quan đến các giai đoạn phát triển của pháp luật phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam. Mọi vướng mắc vui lòng liên hệ qua số điện thoại 19006162 để được tư vấn pháp luật.