Theo Văn bản hợp nhất Luật Tố cáo số 10/VBHN-VPQH ngày 15-07-2020 của Văn phòng Quốc hội; Nghị định số 31/2019/NĐ-CP ngày 10-04-2019 của Chỉnh phủ Quy định chi tiết một số Điều và biện pháp tổ chức thi hành Luật Tố cáo. Quy định cụ thể như sau:

Theo Điều 8 Luật Tố cáo, các hành vi bị nghiêm cấm trong tố cáo và giải quyết tố cáo:

1. Cản trở, gây khỏ khăn, phiền hà cho người tố cáo.

2. Thiếu trách nhiệm, phân biệt đối xử trong việc giải quyết tố cáo.

3. Tiết lộ họ tên, địa chỉ, bút tích của người tố cáo và thông tin khác làm lộ danh tính của người tố cáo.

4. Làm mât, làm sai lệch hồ sơ, tài liệu vụ việc tố cáo trong quá trình giải quyết tố cáo.

5. Không giải quyêt hoặc cố ý giải quyết tố cáo trái pháp luật; lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong việc giải quyêt tố cáo để thực hiện hành vi trái pháp luật, sách nhiễu, gây phiền hà cho người tố cáo, người bị tố cáo.

6. Không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ trách nhiệm bảo vệ người tố cáo.

7. Can thiệp trái pháp luật, cản trở việc giải quyết tố cáo.

8. Đe dọa, mua chuộc, trả thù, trù dập, xúc phạm người tố cáo.

9. Bao che người bị tố cáo.

10. Cố ý tố cáo sai sự thật; cưỡng ép, lôi kéo, kích động, dụ dỗ, mua chuộc người khác tố cáo sai sự thật; sử dụng họ tên của người khác để tố cáo.

11. Mua chuộc, hối lộ, đe dọa, trả thù, xúc phạm người giải quyết tố cáo.

12. Lợi dụng quyền tố cáo để tuyên truyền chổng Nhà nước, xâm phạm lợi ích của Nhà nước; gây rối an ninh, trật tự công cộng; xuyên tạc, vu khống, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác.

13. Đưa tin sai sự thật về việc tố cáo và giải quyết tố cáo.

Luật Minh Khuê phân tích chi tiết quy định pháp lý này như sau:

Tố cáo là việc cá nhân theo thủ tục quy định của Luật tố cáo báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật. Thực tế hiện nay, tố cáo là hình thức được sử dụng nhằm mục đích để nhân dân thực hiện quyền của mình về quản lý nhà nước trên các lĩnh vực khác nhau và dựa trên quy định của pháp luật hiện hành. Ta nhận thấy, tố cáo có các vai trò quan trọng đối với việc phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm. Dưới đây, luật Minh Khuê sẽ cung cấp đến bạn đọc về các quy định, hành vi bị nghiêm cấm trong tố cáo và giải quyết tố cáo.

 

1. Khái niệm tố cáo

Tố cáo theo nghĩa chung nhất là vạch tội lỗi, hành vi vi phạm, việc làm không đúng của kẻ khác trước cơ quan, tổ chức hoặc trước dư luận, trước nhân dân. Theo Đại từ điển tiếng Việt tố cáo là vạch tội lỗi của kẻ khác trước cơ quan pháp luật hoặc trước dư luận. Theo Luật tố cáo năm 2011 thì tó cáo là việc công dân theo thủ tục do Luật này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.

Theo luật Tố cáo năm 2018 vừa được quốc hội khóa XIV thông qua tại kỳ họp thứ 5, có hiệu lực từ ngày 01/01/2019 thì tố cáo là việc cá nhân theo thủ tục do Luật này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ních hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức. Ngoài ra, Luật quy định với tố cáo nặc danh, mạo danh, trong trường hợp có thông tin rõ ràng về người có vi phạm, có tài liệu, chứng cứ cụ thể về hành vi vi phạm và cơ sở để thẩm tra, xác minh thì cơ quan chức năng tiếp nhận, tiến hành, kiểm tra theo thẩm quyền hoặc chuyển đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền để tiến hành thanh tra, kiểm tra phục vụ cho công tác quản lý.

Như vậy, xét về bản chất việc thực hiện quyền tố cáo thể hiện mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân mà trong đó bên đi tố cáo báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích của công dân, cơ quan, tổ chức.

Việc bảo vệ người tố cáo được Nhà nước chú trọng. Bởi lẽ việc tố cáo hướng tới việc xử lý vi phạm cho nên người bị tố cáo thực sự đã có hành vi vi phạm thì họ sẽ tìm mọi cách che giấu, trả thù người tố cáo. Thêm nữa, người bị tố cáo thường là những người có chức vụ, quyền hạn, có điều kiện để thực hiện hành vi trả thù của mình. Cho nên, việc bảo vệ người tố cáo là một trong những vấn đề được pháp luật hết sức quan tâm. Luật tố cáo và nghị quyết số 76/2012/NĐ-CP ngày 03-10-2012 của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật tố cáo đã đưa ra rất nhiều quy định về vấn đề này. Bảo vệ bí mật cho người tố cáo (Điều 14); bảo vệ tài sản của người tố cáo, người thân thích của người tố cáo; bảo vệ uy tín, danh dự, nhân phẩm và các quyền nhân thân khác của người tố cáo, người thân thích của người tố cáo (Điều 14) bảo vệ vị trí công tác, việc làm của người tố cáo, người thân thích của người tố cáo là cán bộ, công chức, viên chức (Điều 17) bảo vệ không chỉ người tố cáo mà cả người thân thích của người tố cáo; bảo vệ người tố cáo ở nơi cư trú, ở nơi làm việc và nơi có tài sản...

Luật tố cáo năm 2018 quy định về bảo vệ bí mật thông tin của người tố cáo như sau:

(1) Việc bảo vệ người tố cáo nhằm bảo vệ, khuyến khích, động viên người dân dũng cảm đấu tranh chống lại các hành vi tham nhũng, tiêu cực, vi phạm pháp luật, giúp các cơ quan nhà nước phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật.

(2) Trên cơ sở đó, để bảo vệ người tố cáo, Điều 47 của Luật quy định cụ thể: Người được bảo vệ bao gồm: Người tố cáo; vợ chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người tố cáo.

(3) Phạm vi bảo vệ, Luật quy định bảo vệ bí mật thông tin của người tố cáo; bảo vệ vị trí công tác, việc làm, tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người được bảo vệ.

(4) Luật giao trách nhiệm bảo vệ trước hết thuộc về cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố cáo. Bên cạnh đó, các cơ quan khác, trong phạm vi, nhiệm vụ, quyền hạn của mình cũng có trách nhiệm bảo vệ người tố cáo và những người thân thích của họ, đó là cơ quan tiếp nhận, xác minh nội dung tố cáo; cơ quan công an; cơ quan quản lý nhà nước về cán bộ, công chức, viên chức, lao động; Ủy ban nhân dân các cấp, công đoàn các cấp...

Do tố cáo có thể đụng chạm trực tiếp đến quyền lợi, danh dự của người bị tố cáo nên pháp luật đề cao trách nhiệm của người tố cáo, đòi hỏi người tố cáo phải trung thực và chịu trách nhiệm về việc tố cáo sai sự thật nếu cố tình, thậm chí co thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vu cáo, vu khống theo quy định của Bộ luật hình sự. Nếu cho phép tổ chức tố cáo thì sẽ không thể xử lý bời vì pháp luật Việt Nam hiện nay chưa chấp nhận truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân (cơ quan, tổ chức).

Tố cáo và giải quyết tố cáo trong thi hành án dân sự được quy định từ Điều 154 đến Điều 158 Luật thi hành án dân sự, Thông tư số 02/2016/TT-BTP ngày 01/02/2016 của Bộ Tư pháp quy định quy trình giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo, đề nghị, kiến nghị, phản ánh trong thi hành án dân sự. Theo quy định này thì tố cáo trong thi hành án dân sự là việc công dân theo thủ tục do Luật thi hành án dân sự báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về hành vi vi phạm pháp luật của thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự. Chấp hành viên và công chức khác làm công tác thi hành án dân sự gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức. Đối tượng thực hiện quyền tố cáo trong thi hành án dân sự thường là đương sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành án.

 

2. Quyền và nghĩa vụ của người tố cáo như thế nào?

Căn cứ theo quy định tại Điều 9. Quyền và nghĩa vụ của người tố cáo Luật tố cáo 2018 quy định cụ thể như sau:

 

2.1 Người tố cáo có các quyền sau đây:

a) Thực hiện quyền tố cáo theo quy định của Luật này;

b) Được bảo đảm bí mật họ tên, địa chỉ và thông tin cá nhân khác;

c) Được thông báo về việc thụ lý hoặc không thụ lý tố cáo, chuyển tố cáo đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết, gia hạn giải quyết tố cáo, đình chỉ, tạm đình chỉ việc giải quyết tố cáo, tiếp tục giải quyết tố cáo, kết luận nội dung tố cáo;

d) Tố cáo tiếp khi có căn cứ cho rằng việc giải quyết tố cáo của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền không đúng pháp luật hoặc quá thời hạn quy định mà tố cáo chưa được giải quyết;

đ) Rút tố cáo;

e) Đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền áp dụng các biện pháp bảo vệ người tố cáo;

g) Được khen thưởng, bồi thường thiệt hại theo quy định của Pháp luật.

 

2.2  Người tố cáo có các nghĩa vụ sau đây:

a) Cung cấp thông tin cá nhân quy định tại Điều 23 của Luật này;

b) Trình bày trung thực về nội dung tố cáo; cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung tố cáo mà mình có được;

c) Chịu trách nhiệm trung thực trước pháp luật về nội dung tố cáo;

d) Hợp tác với người giải quyết về nội dung tố cáo;

đ) Bồi thường thiệt hại do hành vi cố ý tố cáo sai sự thật của mình gây ra.

Như vậy căn cứ theo quy định như trên ta thất pháp luật quy định rất cụ thể đối với người tố cáo về quyền và nghĩa vụ họ phải thực hiện. Bên cạnh đó vấn đề thực tiễn công tác giải quyết tố cáo trong thời gian từ khi Luật tố cáo 2018 ra đời đến nay cho thấy vẫn còn hiện tượng tố cáo khi chưa rõ hành vi vi phạm, chỉ nghe thông tin có vi phạm bằng cảm nhận chủ quan hoặc tố cáo khi không rõ quy định của pháp luật; tố cáo khi không đạt được mục đích khác nhau như khiếu nại, tố cáo khi kiến nghị, phản ánh hoặc chính việc tố cáo đã giải quyết không đạt mục đích và chuyển sang tố cáo và nhưng không có tài liệu chứng cứ chứng minh hành vi vi phạm; do vậy gây mất thời gian, công sức và lãng phí tiền của nhà nước khi giải quyết tố cáo.

Tuy pháp luật quy định quyền tố cáo của người tố cao như vậy, tuy nhiên chúng ta để hạn chế hành vi tố cáo sai sự thật trong thời gian tới cần thực hiện tốt một số biện pháp sau: Đẩy mạnh tuyên truyền sâu rộng Luật khiếu nại, Luật tố cáo đến cá nhân, tổ chức và toàn thể nhân dân, đặc biệt là các hành vi nghiêm cấm và xử lý các hành vi khiếu nại, tố cáo sai sự thật. khẩn trương ban hành nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tố cáo sai sự thật thật và triển khai thực hiện nghiêm túc. Khi thụ lý đơn thư tố cáo cần phải phân loại cụ thể nội dung nào đúng sự thật thì phải nghiêm túc giải quyết một cách kịp thời.

Đối với trường hợp cố ý tố cáo sai sự thật có dấu hiệu tội phạm thì đề nghị chuyển cơ quan chức năng để điều tra, truy cứu trách nhiệm hình sự. Đối với công chức, viên chức có hành vi tố cáo sai sự thật thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, thủ trưởng cơ quan, đơn vị trực tiếp quản lý về tổ chức cán bộ phân cáp tiến hành xử lý kỷ luật theo quy định tại Điều 48 Luật tố cáo. Đối với công dân có hành vi cố ý tố cáo sai sự thật thì yêu cầu Ủy ban nhân dân cấp huyện chỉ đạo các địa phương thuộc thẩm quyền quản lý tổ kiểm điểm trước nhân dân nơi cư trú để chấn chỉnh, răn đe. Có như vậy, sẽ hạn chế được các đơn thư khiếu nại, tố cáo sai sự thật, cũng như tình trạng các đơn thư kéo dài, vượt cấp, phức tạp như thực tiễn thi hành pháp luật khiếu nại, tố cáo thời gian qua.

Ngoài ra đối với các nghĩa vụ đã nêu trên thì người tố cáo cũng cần phải thực hiện đúng theo quy định của pháp luật và lưu yếu nếu cung cấp thông tin sai sự thật người tố cáo phải bồi thường thiệt hại do hành vi cố ý tố cáo sai sự thật của mình gây ra.

 

3. Quy định về các hành vi bị nghiêm cấm trong tố cáo và giải quyết tố cáo:

Tố cáo được hiểu cơ bản chính là việc cá nhân theo thủ tục quy định của pháp luật báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Các hành vi bị nghiêm cấm trong tố cáo và giải quyết tố cáo cụ thể là các hành vi sau đây:

- Cản trở, gây khó khăn, phiền hà cho người tố cáo là hành vi bị nghiêm cấm trong tố cáo và giải quyết tố cáo.

- Thiếu trách nhiệm, phân biệt đối xử trong việc giải quyết tố cáo là hành vi bị nghiêm cấm trong tố cáo và giải quyết tố cáo.

- Tiết lộ họ tên, địa chỉ, bút tích của người tố cáo và thông tin khác làm lộ danh tính của người tố cáo là hành vi bị nghiêm cấm trong tố cáo và giải quyết tố cáo.

- Làm mất, làm sai lệch hồ sơ, tài liệu vụ việc tố cáo trong quá trình giải quyết tố cáo là hành vi bị nghiêm cấm trong tố cáo và giải quyết tố cáo. 

- Làm mất, làm sai lệch hồ sơ, tài liệu vụ việc tố cáo trong quá trình giải quyết tố cáo là hành vi bị nghiêm cấm trong tố cáo và giải quyết tố cáo.

- Không giải quyết hoặc cố ý giải quyết tố cáo trái pháp luật; lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong việc giải quyết tố cáo để thực hiện hành vi trái pháp luật, sách nhiễu, gây phiền hà cho người tố cáo, người bị tố cáo là hành vi bị nghiêm cấm trong tố cáo và giải quyết tố cáo.

- Không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ trách nhiệm bào vệ người tố cáo là hành vi bị nghiêm cấm trong tố cáo và giải quyết tố cáo.

- Can thiệp trái pháp luật, cản trở việc giải quyết tố cáo là hành vi bị nghiêm cấm trong tố cáo và giải quyết tố cáo.

- Đe dọa, mua chuộc, trả thù, trù dập, xúc phạm người tố cáo là hành vi bị nghiêm cấm trong tố cáo và giải quyết tố cáo.

- Bao che người bị tố cáo là hành vi bị nghiêm cấm trong tố cáo và giải quyết tố cáo.

- Cố ý tố cáo sai sự thật; cưỡng ép, lôi kéo, kích động, dụ dỗ, mua chuộc người khác tố cáo sai sự thật; sử dụng họ tên của người khác để tố cáo là hành vi bị nghiêm cấm trong tố cáo giải quyết tố cáo.

- Mua chuộc, hối lộ, đe dọa, trả thù, xúc phạm người giải quyết tố cáo là hành vi bị nghiêm cấm trong tố cáo và giải quyết tố cáo.

- Lợi dung quyền tố cáo để tuyên truyền chống Nhà nước, xâm phạm lợi của Nhà nước; gây rối an ninh, trật tự công cộng; xuyên tạc, vu khống, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác là hành vi bị nghiêm cấm trong tố cáo và giải quyết tố cáo.

- Đưa tin sai sự thật về việc tố cáo và giải quyết tố cáo là hành vi bị nghiêm cấm trong tố cáo và giải quyết tố cáo.

Quyền tố cáo là một trong những quyền và nghĩa vụ chính trị, pháp lý của công dân, nó tồn tại trong mối quan hệ với các quyền và nghĩa vụ khác của công dân. Pháp luật quy định quyền và nghĩa vụ của công dân khi thực hiện tố cáo, chính là tạo cơ sở pháp lý cho nhân dân lao động tham gia đông đảo, tích cực vào hoạt động quản lý hành chính nhà nước, quản lý xã hội. Bên cạnh đó nêu cao vai trò trách nhiệm của công dân trong việc xây dựng bộ máy nhà nước của dân, do dân, vì dân; Xây dựng đội ngũ cán bộ nhà nước trong sạch và có năng lực...

Nhà nước ta quy định quyền và nghĩa vụ thực hiện tố cáo của công dân ở điều 74 Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) "công dân có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào". Công dân sẽ không chỉ có quyền tố cáo mà họ còn có nghĩa vụ khi thực hiện tố cáo.

Pháp luật quy định cụ thể và rõ ràng về quyền tố cáo của công dân, do vậy việc công dân thực hiện quyền tố cáo của mình đúng theo pháp luật chính là sự thể hiện sự tuân thủ pháp luật, là một biểu hiện của pháp chế. Đối với các hành vi vi phạm vào các hành vi vi phạm vào các hành vi bị nghiêm cấm trong tố cáo và giải quyết tố cáo thì tùy theo mức độ và tính chất sẽ bị xử lý theo đúng quy định pháp luật.

 

4. Vai trò của việc giải quyết tố cáo với việc bảo đảm pháp chế trong quản lý hành chính nhà nước:

Hoạt động giải quyết tố cáo của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã làm hoàn thiện, đồng bộ hơn hệ thống quy phạm pháp luật về tố cáo, đã phản ánh yêu cầu của dân chủ xã hội chủ nghĩa trong việc bảo đảm quyền tố cáo của công dân được ghi trong Hiến Pháp.

Luật tố cáo quy định các khái niệm tố cáo, người tố cáo, giải quyết tô cáo,... Luật tố cáo đã cụ thể hóa đầy đủ, toàn diện tinh thần và nội dung quyền tố cáo của công dân được quy định trong hiến pháp, điều chỉnh được đầy đủ những quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tố cáo và giải quyết tố cáo. Để nhằm mục đích có thể đảm bảo tính khả thi, việc cụ thể hóa quyền tố cáo phải phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của nhà nước ta và xu hướng hội nhập trên thế giới.

Trong hoạt động giải quyết tố cáo của cơ quan hành chính nhà nước, pháp luật về tố cáo đã đảm bảo được một số yêu cầu như:

- Tôn trọng tính tối cao của Hiến pháp trong việc cụ thể hóa quyền tố cáo của công dân.

- Pháp luật về tố cáo công cụ pháp lý để công dân, cơ quan tổ chức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, lợi ích của nhà nước, của xã hội và của người khác khi bị xâm phạm.

- Pháp luật về tố cáo đã phản ánh nhu cầu, nội dung và là công cụ bào vệ nền dân chủ xã hội.

Bản chất của pháp chế trên thực tế chính là sự tuân thủ pháp luật. Hoạt động giải quyết tố cáo đã được cơ quan hành chính nhà nước và những người có thẩm quyền giải quyết tố cáo tự giác nghiêm chỉnh thực hiện đầy đủ đúng đắn các quy định của luật tố cáo và pháp luật khác có liên quan. Điều này đảm bảo cho pháp chế xã hội chủ nghĩa trong quản lý hành chính nhà nước.

Các cơ quan hành chính và người có thẩm quyền giải quyết tố cáo đã tự giác tuân thủ, thực thi pháp luật tố cáo theo những yêu cầu sau:

- Thực hiện đầy đủ chế độ trách nhiệm giải quyết tố cáo, trách nhiệm tiếp công dân, trách nhiệm xử lý vi phạm pháp luật tố cáo,...

- Nhận thức và quán triệt đầy đủ các nguyên tắc giải quyết tố cáo. Chúng ta có thể kể đến như: Nguyên tắc đảm bảo quyền tố cáo của công dân; nguyên tắc độc lập; nguyên tắc giải quyết hợp pháp, hợp lý; nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật,...

- Bảo đảm và thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của người tố cáo, người tố cáo và những chủ thể khác mà pháp luật tố cáo đã quy định.

- Tuân thủ nghiêm ngặt thẩm quyền giải quyết tốc cáo. Thẩm quyền giải quyết tố cáo được xác định bởi địa vị pháp lý của cơ quan hành chính nhà nước.

- Tuân thủ các quy định về thủ tục giải quyết tố cáo.

- Tuân thủ những quy định về việc ban hành, quyết định kết luận giải quyết tố cáo.

- Tuân thủ những quy định trong việc tổ chức thực hiện quyết định, kết luận giải quyết tố cáo. Tổ chức thực hiện quyết định, kết luận giải quyết tố cáo của các cơ quan hành chính nhà nước. Việc giải quyết tố cáo sẽ trở nên vô nghĩa, trật tự kỷ cương và pháp chế xã hội chủ nghĩa sẽ không được bảo đảm khi các quyết định, kết luận giải quyết tố cáo không được tổ chức thực hiện hoặc thực hiện không nghiêm.

Trong quá trình giải quyết tố cáo, các cơ quan hành chính nhà nước và những người có thẩm quyền không những chấp hành pháp luật tố cáo mà con chấp hành pháp luật khác có liên quan đã góp phần đảm bảo pháp chế trong quản lý hành chính nhà nước.

Trong hoạt động giải quyết tố cáo, nếu cơ quan hành chính nhà nước vi phạm pháp luật tố cáo sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc thực thi pháp chế, làm suy giảm lòng tin của nhân dân và là nhân tố tiềm ẩn gây mất ổn định chính trị, xã hội. Vì vậy việc xử lý nghiêm minh mọi vi phạm pháp luật tố cáo của những người có thẩm quyền giải quyết tố cáo không kể người vi phạm là nai, ở cương vị nào sẽ bảo đảm pháp chế, tăng hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Trên đây là bài viết mà Luật Minh Khuê muốn cung cấp đến bạn đọc, Nếu có thắc mắc vui lòng liên hệ tới tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến hotline 1900.6162 để được chuyên viên pháp luật tư vấn trực tiếp. Xin chân thành cảm ơn!