1. Hoạt động thương mại điện tử được hiểu là gì?

Ngày nay, với sự tiến bộ vững chắc của công nghệ và sự tăng cao không ngừng của nhu cầu con người, nhiều hoạt động đang trải qua quá trình chuyển đổi số, bao gồm cả các hoạt động như trao đổi và mua bán. Điều này đã tạo ra một hình thức mới được biết đến là thương mại điện tử.

Về khía cạnh thương mại, theo quy định tại khoản 1 Điều 3 của Luật Thương mại 2005, hoạt động thương mại được xác định như sau: Hoạt động thương mại là những hoạt động được thực hiện với mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động khác nhằm mục đích sinh lợi.

Theo Điều 3, Khoản 1 của Nghị định 52/2013/NĐ-CP về thương mại điện tử, hoạt động thương mại điện tử được định nghĩa như sau: Hoạt động thương mại điện tử là quá trình thực hiện một phần hoặc toàn bộ các bước của hoạt động thương mại thông qua phương tiện điện tử kết nối với Internet, mạng di động hoặc các mạng mở khác.

Ngoài ra, theo Nghị định 52/2013/NĐ-CP đã được sửa đổi và bổ sung bởi Khoản 6, Điều 1 của Nghị định 85/2021/NĐ-CP, quy định về các chủ thể tham gia hoạt động thương mại điện tử. Theo quy định này, các chủ thể bao gồm:

- Các thương nhân, tổ chức, cá nhân thành lập website thương mại điện tử để thực hiện các hoạt động xúc tiến thương mại, bán hàng hoặc cung ứng dịch vụ của mình (người sở hữu website thương mại điện tử).

- Các thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ thương mại điện tử.

- Các thương nhân, tổ chức, cá nhân sử dụng website của thương nhân hoặc tổ chức cung cấp dịch vụ thương mại điện tử để thực hiện hoạt động xúc tiến thương mại, bán hàng hoặc cung ứng dịch vụ của mình (người bán).

- Các thương nhân, tổ chức, cá nhân mua hàng hoặc dịch vụ trên website thương mại điện tử bán hàng và website cung cấp dịch vụ thương mại điện tử (khách hàng).

- Các thương nhân, tổ chức cung cấp hạ tầng kỹ thuật, dịch vụ logistics và các dịch vụ hỗ trợ khác cho hoạt động thương mại điện tử.

- Các thương nhân, tổ chức, cá nhân sử dụng thiết bị điện tử kết nối mạng khác để thực hiện hoạt động thương mại.

Do đó, có thể hiểu rằng hoạt động thương mại điện tử là quá trình mua bán, trao đổi hàng hoá giữa các chủ thể qua mạng Internet hoặc các loại mạng khác.

 

2. Các hành vi bị cấm trong hoạt động thương mại điện tử

Các cá nhân và tổ chức không được phép thực hiện những hành vi sau đây trong lĩnh vực hoạt động thương mại điện tử:

(1) Vi phạm trong lĩnh vực kinh doanh thương mại điện tử bao gồm các hành vi sau đây:

- Lợi dụng hoạt động thương mại điện tử để triển khai kinh doanh theo hình thức đa cấp mà không có giấy chứng nhận đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp, theo quy định của pháp luật về quản lý hoạt động kinh doanh đa cấp.

- Sử dụng thương mại điện tử để thực hiện kinh doanh các sản phẩm giả mạo, hàng hóa, dịch vụ vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, hoặc thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ bị cấm kinh doanh.

- Sử dụng danh nghĩa của hoạt động kinh doanh thương mại điện tử để huy động vốn một cách trái phép từ các doanh nhân, tổ chức, hoặc cá nhân khác.

- Cung cấp các dịch vụ thương mại điện tử hoặc các dịch vụ giám sát, đánh giá, và chứng thực trong lĩnh vực thương mại điện tử mà không có đăng ký theo quy định của Nghị định 52/2013/NĐ-CP.

- Cung cấp các dịch vụ thương mại điện tử hoặc dịch vụ giám sát, đánh giá, và chứng thực trong lĩnh vực thương mại điện tử không đúng với thông tin được đăng ký hoặc được cấp phép.

- Thực hiện hành vi lừa đảo hoặc cung cấp thông tin không chính xác khi thực hiện các thủ tục thông báo thiết lập website thương mại điện tử, đăng ký website cung cấp dịch vụ thương mại điện tử, hoặc đăng ký các dịch vụ giám sát, đánh giá, và chứng thực trong lĩnh vực thương mại điện tử.

(2) Vi phạm liên quan đến thông tin trên các trang web thương mại điện tử bao gồm các hành vi sau:

- Làm giả thông tin đăng ký hoặc không tuân thủ các quy định về cách thức và quy cách công bố thông tin đăng ký trên các trang web thương mại điện tử.

- Sử dụng biểu tượng của các chương trình đánh giá uy tín cho các trang web thương mại điện tử mà chưa được sự công nhận từ các chương trình này.

- Sử dụng các liên kết, biểu trưng hoặc công nghệ khác trên các trang web thương mại điện tử để tạo ra sự nhầm lẫn về mối liên hệ với các doanh nhân, tổ chức hoặc cá nhân khác.

- Sử dụng liên kết để cung cấp thông tin mâu thuẫn hoặc không chính xác so với thông tin được công bố trên các phần của trang web liên quan đến liên kết đó.

(3) Các hành vi vi phạm liên quan đến giao dịch trên các trang web thương mại điện tử bao gồm:

- Tiến hành các hành vi lừa đảo khách hàng trực tuyến trên các trang web thương mại điện tử.

- Lợi dụng việc giả mạo thông tin của các thương nhân, tổ chức, hoặc cá nhân khác để tham gia vào các hoạt động thương mại điện tử.

- Can thiệp vào hệ điều hành và trình duyệt Internet trên các thiết bị điện tử khi truy cập vào trang web, nhằm buộc khách hàng lưu lại trang web một cách không mong muốn.

(4) Các vi phạm khác bao gồm:

- Đánh cắp, sử dụng, tiết lộ, chuyển nhượng, hoặc bán các thông tin liên quan đến bí mật kinh doanh của các thương nhân, tổ chức, hoặc cá nhân khác, cũng như thông tin cá nhân của người tiêu dùng trong lĩnh vực thương mại điện tử mà không có sự đồng ý từ các bên liên quan, trừ khi có quy định khác của pháp luật.

- Giả mạo hoặc sao chép giao diện của các trang web thương mại điện tử của các thương nhân, tổ chức, hoặc cá nhân khác để tạo lợi ích cá nhân hoặc gây nhầm lẫn, làm mất lòng tin của khách hàng đối với những thương nhân, tổ chức, hoặc cá nhân đó.

(Điều 4 Nghị định 52/2013/NĐ-CP, sửa đổi tại Nghị định 85/2021/NĐ-CP)

 

3. Quy định về trách nhiệm quản lý nhà nước về thương mại điện tử

Về phần quản lý nhà nước đối với lĩnh vực thương mại điện tử, theo quy định tại Điều 5 của Nghị định 52/2013/NĐ-CP, các nhiệm vụ được xác định như sau:

- Xây dựng và tổ chức triển khai cơ chế, chính sách, chiến lược, quy hoạch, và chương trình phát triển thương mại điện tử và chuyển đổi số trong lĩnh vực thương mại, điều này đã được điều chỉnh bởi Khoản 5, Điều 1 của Nghị định 85/2021/NĐ-CP.

- Ban hành và thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến hoạt động thương mại điện tử, tiêu chuẩn, quy chuẩn ứng dụng thương mại điện tử, và các quy định về quản lý dịch vụ thương mại điện tử đặc thù.

- Quản lý và giám sát các hoạt động thương mại điện tử.

- Tuyên truyền và phổ biến giáo dục về pháp luật liên quan đến thương mại điện tử.

- Tổ chức và thực hiện các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng, và chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực thương mại điện tử.

- Tổ chức và thực hiện các hoạt động tư vấn, hỗ trợ doanh nghiệp triển khai và ứng dụng thương mại điện tử.

- Tổ chức đào tạo và bồi dưỡng nhân lực cho lĩnh vực thương mại điện tử.

- Thống kê về thương mại điện tử.

- Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thương mại điện tử.

- Thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm trong hoạt động thương mại điện tử.

Đối với trách nhiệm quản lý nhà nước trong lĩnh vực thương mại điện tử, theo Điều 6 của Nghị định 52/2013/NĐ-CP:

- Bộ Công Thương chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong việc thực hiện quản lý nhà nước về thương mại điện tử.

- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình, có trách nhiệm phối hợp với Bộ Công Thương để thực hiện quản lý nhà nước về thương mại điện tử.

Bài viết liên quan: Hoạt động thương mại điện tử là gì? Đặc điểm, phân loại? 

Luật Minh Khuê xin tiếp nhận yêu cầu tư vấn của quý khách hàng qua số hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin trân trọng cảm ơn!