1. Hệ thuộc luật nhân thân (lex personalis)

Hệ thuộc luật nhân thân là nguyên tắc áp dụng pháp luật để giải quyết một số quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, dựa vào dấu hiệu nhân thân của đương sự. Một số quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được áp dụng hệ thuộc luật nhân thân: quan hệ về hôn nhân và gia đình, quan hệ thừa kế, quan hệ hợp đồng...

Về cách thức thể hiện, luật nhân thân có hai dạng là : hệ thuộc luật quốc tịch và hệ thuộc luật nơi cư trú

  1. Hệ thuộc luật quốc tịch

Hệ thuộc luật quốc tịch được hiểu là luật của nước mà đương sự mang quốc tịch

Ví dụ: theo quy định tại Khoản 1 Điều 673. Bộ luật Dân sự Việt Nam 2015, quy định về: năng lực pháp luật dân sự của cá nhân:

“1. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân được xác định theo pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch.”

Hay trong Điều 18 hiệp định tương trợ tư pháp về các vấn đề dân sự, gia đình, lao động và hình sự giữa Việt Nam và CUBA kí năm 1984 quy định;

“1. Năng lực pháp luật và năng lực hành vi của một người do pháp luật của nước kí kết mà họ là công dân quy định.”

Như vậy, cả hai trường hợp trên đều sử dụng hệ thuộc luật quốc tịch để giải quyết xung đột về năng lực pháp luật của cá nhân

Hầu hết các nước ở Châu Âu như: Pháp, Đức, Ý... đều áp dụng luật quốc tịch cho quy chế nhân thân

b. Hệ thuộc nơi cư trú

Hệ thuộc luật nơi cư trú được hiểu là luật của quốc gia, mà ở đó đương sự có nơi cư trú ổn định

Ví dụ, khoản 2 Điều 27 Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về các vấn đề dân sự, gia đình và hình sự giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô Viết năm 1982

“2.  Quan hệ pháp luật giữa cha mẹ và con cái được xác định theo pháp luật của nước kí kết nơi họ đang cùng cư trú.”

Trường hợp trên, hệ thuộc luật nơi cư trú đã được áp dụng để giải quyết quan hệ pháp luật giữa cha mẹ và con cái

Trong hai hệ thuộc trên, hệ thuộc luật quốc tịch mang tính ổn định và dễ xác định hơn so với luật nơi cư trú. Tuy nhiên hệ thuộc này sẽ gặp khó khăn khi giải quyết các trường hợp không có quốc tịch hoặc mang nhiều quốc tịch

2. Hệ thuộc luật quốc tịch của pháp nhân

Hệ thuộc luật quốc tịch của pháp nhân là pháp luật của nước mà pháp nhân thành lập (đăng kí thành lập) hoặc nơi pháp nhân có trụ sở chính.

Ví dụ: Công ty A là một pháp nhân mang quốc tịch Anh, nhưng được thành lập ở Việt Nam (có trụ sở ở Việt Nam). Công ty này sẽ được hưởng các quyền như pháp nhân Việt Nam và được bảo hộ trên cơ sở pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên

Phạm vi điều chỉnh:

  • Điều kiện thành lập, tổ chức hoạt động của pháp nhân
  • Điều kiện chấm dứt sự tồn tại của pháp nhân
  • Các vấn đề về tài sản của pháp nhân
  • Tư cách của pháp nhân

Pháp nhân mang quốc tịch của quốc gia nào thì chịu sự điều chỉnh của quốc gia đó. Quốc tịch của một pháp nhân thường được xác định thông qua các yểu tố sau:

  • Nơi đặt trụ sở của pháp nhân
  • Trung tâm các hoạt động của pháp nhân
  • Pháp luật của nước mà pháp nhân được thành lập
  • Trong những trường hợp đặc biệt, căn cứ vào quốc tịch của người thực sự làm chủ hay lãnh đạo pháp nhân đó

Ở Việt Nam pháp nhân được thành lập theo pháp luật Việt Nam và được đăng kí điều lệ ở Việt Nam thì đương nhiên mang quốc tịch Việt Nam

Theo quy định tại khoản 3 Điều 676. Bộ luật Dân sự Việt Nam 2015, quy định về: pháp nhân

 “3. Trường hợp pháp nhân nước ngoài xác lập, thực hiện giao dịch dân sự tại Việt Nam thì năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân nước ngoài đó được xác định theo pháp luật Việt Nam.”

3. Hệ thuộc luật nơi có tài sản

Hệ thuộc luật nơi có tài sản được hiểu là tài sản đang tồn tại ở nước nào thì luật của nước đó được ấp dụng với tài sản đó

Phạm vi điều chỉnh:

  • Quyền sở hữu đối với tài sản hữu hình (đối với tài sản trí tuệ thì sẽ do luật nơi đối tượng sở hữu trí tuệ đó được bảo hộ,m áp dụng)
  • Quyền thừa kế đối với tài sản là bất động sản
  • Định danh tài sản
  • Quan hệ tài sản giữa vợ chồng: phân chia tài sản trong hôn nhân và gia đình...

Ví dụ: theo khoản 2 Điều 680. Bộ luật dân sự Việt Nam quy định về: thừa kế

“2. Việc thực hiện quyền thừa kế đối với bất động sản được xác định theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó.”

4. Hệ thuộc luật Tòa án

Hệ thuộc luật Tòa án là pháp luật của nước nơi có Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp sẽ được áp dụng. Đây là nguyên tắc áp dụng luật dựa trên dấu hiệu nơi có cơ quan có thẩm quyền giải quyết đối với vụ việc.

Phạm vi áp dụng: các vấn đề về tố tụng dân sự, tố tụng về kinh doanh thương mại hoặc các quan hệ về hôn nhân gia đình

Ví dụ: theo khoản 3, Điều 22 hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về các vấn đề dân sự, gia đình và hình sự giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô Viết năm 1982, quy định về: công nhận người mất tích hoặc chết và xác nhận sự kiện chết

“3. Trong những trường hợp nói ở các khoản 1 và khoản 2 trên đấy, các cơ quan tư pháp của các nước ký kết áp dụng luật cho nước mình.”

Như vậy, với quy định như trên, Việt Nam và Liên Xô (Nga kế thừa) đã sử dụng hệ thuộc luật Tòa án để giải quyết vấn đề liên quan đến: công nhận người mất tích hoặc chết và xác nhận sự kiện chết.

Hệ thuộc luật Tòa án có thể được áp dụng độc lập như là một nguyên tắc giải quyết xung đột chính thức. Trong trường hợp không thể áp dụng được luật nhân thân thì hệ thuộc luật Tòa án sẽ được áp dụng với tư cách là nguyên tắc thay thế

5. Hệ thuộc luật nơi thực hiện hành vi

Hệ thuộc luật nơi thực hiện hành vi là luật của nước nơi thực hiện một hành vi pháp lý

Phạm vi áp dụng; thường điều chỉnh các quan hệ hợp đồng, các hành vi pháp lý

Các hình thức thể hiện của hệ thuộc này, gồm:

  • Luật nơi giao kết hợp đồng: là pháp luật của nước nơi mà hợp đồng này được giao kết

Ví dụ: theo quy định tại khoản 1 Điều 21. Hiệp định tương trợ tư pháp về dân sự và hình sự giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, quy định về: Hình thức của hợp đồng dân sự

“1. Hình thức của hợp đồng dân sự phải tuân theo pháp luật của nước kí kết, nơi giao kết hợp đồng.”

Như vậy Việt Nam và Lào đã áp dụng hệ thuộc luật nơi giao kết hợp đồng để giải quyết vấn đề về hình thức của hợp đồng dân sự

  • Luật nơi thực hiện hợp đồng: là pháp luật của nước nơi hợp đồng được thực hiện

Ví dụ; quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng dân sự được xác định theo luật của nước nơi thực hiện hợp đồng

Luật nơi thực hiện nghĩa vụ: là pháp luật của nước nơi nghĩa vụ (chính) được thực hiện

Luật nơi thực hiện kết hôn: là pháp luật của nước nơi đăng kí kết hôn

Luật nơi thực hiện công việc: là pháp luật của nước nơi công việc được thực hiện

6. Hệ thuộc luật nơi xảy ra hành vi vi phạm pháp luật

Hệ thuộc luật nơi xảy ra hành vi vi phạm pháp luật là ; pháp luật của nơi xảy ra hành vi vi phạm pháp luật sẽ được áp dụng để điều chỉnh việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Nơi có hành vi gây thiệt hại ở đây được hiểu là; nơi xảy ra hành vi gây thiệt hại, nơi tồn tại hậu quả của hành vi gây thiệt hại hoặc nơi phát sinh hậu quả thực tế

Phạm vi áp dụng: bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Ví dụ; theo quy định tại khoản 1 Điều 687. Bộ luật Dân sự Việt Nam 2015, quy định về: bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

“1. Các bên được thỏa thuận lựa chọn pháp luật áp dụng cho việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 điều này. Trường hợp không có thỏa thuận thì pháp luật của nước nơi phát sinh hậu quả của sự kiện gây thiệt hại được áp dụng.”

7. Hệ thuộc luật lựa chọn

Hệ thuộc luật lựa chọn là: luật của nước mà các bên thống nhất, thỏa thuận lựa chọn để giải quyết

Phạm vi áp dụng: các quan hệ hợp đồng phát sinh trong thương mại, hàng hải, hàng không dân dụng quốc tế

Ví dụ: theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Luật thương mại Việt Nam 2005, quy định về: áp dụng điều ước quốc tế, pháp luật nước ngoài và tập quán thương mại quốc tế:

“2. Các bên trong giao dịch thương mại có yếu tố nước ngoài được thỏa thuận áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế nếu pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.”

Như vậy, các bên trong giao dịch thương mại có yếu tố nước ngoài, có quyền lựa chọn luật áp dụng, nếu luật đó không trái luật Việt Nam

8. Hệ thuộc luật quốc kì

Hệ thuộc luật quốc kì: nguyên tắc áp dụng pháp luật dựa vào dấu hiệu quốc tịch của phương tiện; pháp luật của nước mà tàu bay, tàu biển mang quốc tịch sẽ được áp dụng

Phạm vi áp dụng; áp dụng trong lĩnh vực hàng ahir quốc tế, hàng không dân dụng

Ví dụ; theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật hàng hải Việt Nam 2015, quy định:

“1. Trường hợp quan hệ pháp luật liên quan đến quyền sở hữu tài sản trên tàu biển, hợp đồng thuê tàu biển, hợp đồng thuê thuyền viên, hợp đồng vận chuyển hành khách và hành lý, phân chia tiền công cứu hộ giữa chủ tàu cứu hộ và thuyền bộ của tàu cứu hộ, trục vớt tài sản chìm đắm ở vùng biển quốc tế, các vụ việc xảy ra trên tàu biển khi tàu đang ở vùng biển quốc tế thì áp dụng pháp luật của quốc gia mà tàu biển mang cờ quốc tịch.”

Như vậy, Việt Nam đã sử dụng hệ thuộc luật quốc kì để giải quyết vấn đề khi có xung đột luật hàng hải

* Các kiểu hệ thuộc mà tư pháp quốc tế Việt Nam đã sử dụng để áp dụng trong các văn bản luật

Tư pháp quốc tế Việt Nam có đối tượng điều chỉnh là quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố  nước ngoài và quan hệ tố tụng dân sự quốc tế. tư pháp quốc tế Việt Nam bao gồm nhiểu quy phạm ở nhiều văn bản khác nhau như: Bộ luật Dân sự 2015, Bộ luật tố tụng Dân sự 2015, luật Hôn nhân và gia đình 2014, luật Thương mại 2005...

 

Việt Nam đã sử dụng một số hệ thuộc sau để áp dụng trong các văn bản luật:

  • Hệ thuộc luật nhân thân: Việt Nam đã sử dụng để áp dụng trong Bộ luật Dân sự 2015, Luật hôn nhân và gia đình 2015...
  • Hệ thuộc luật quốc tịch của pháp nhân: được quy định trong Bộ luật Dân sự 2015...
  • Hệ thuộc luật nơi có tài sản: được áp dụng trong Bộ luật Dân sự 2015...
  • Hệ thuộc luật nơi xảy ra hành vi vi phạm: được áp dụng trong Bộ luật Dân sự 2015...
  • Hệ thuộc luật lựa chọn: được áp dụng trong luật thương mại 2005...
  • Hệ thuộc luật quốc kì: được áp dụng trong Luật hàng hải 2015...
  • ...