1. Giới thiệu tác giả
Sách "Hướng dẫn học tư pháp quốc tế" do TS. Vũ Thị Phương Lan và TS. Nguyễn Thái Mai đồng chủ biên.
2. Giới thiệu hình ảnh sách

Sách Hướng dẫn học tư pháp quốc tế
Tác giả: TS. Vũ Thị Phương Lan, TS. Nguyễn Thái Mai (đồng chủ biên)
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia sự thật
3. Tổng quan nội dung sách
Tư pháp quốc tế là một trong những môn học khó trong chương trình đào tạo luật của các trường luật. Môn học này đòi hỏi ở người học nên kiến thức tương đối rộng, liên quan đến nhiều ngành luật và cả tư duy logic mạch lạc. Để giúp sinh viên và bạn đọc quan tâm có thể nắm được kiến thức cơ bản của tư pháp quốc tế một cách dễ dàng và hệ thống hơn, tập thể tác giả là giảng viên bộ môn tư pháp quốc tế, trường đại học luật Hà Nội đã tiến hành biên soạn cuốn sách hướng dẫn học tư pháp quốc tế.
Cuốn sách này được thiết kế theo nội dung của giáo trình tư pháp quốc tế của trường đại học luật Hà Nội. Cuốn sách gồm 13 chương tương ứng 13 chương của giáo trình. Mỗi chương đều được chia làm hai mục, mục I tóm lược các nội dung chính, cơ bản của chương tương ứng trong giáo trình, chỉ ra những nội dung có vai trò chi phối kiến thức trong chương phải liên kết logic giữa các phần kiến thức trong chương giáo trình. Mục II là một số câu hỏi, bài tập tham khảo để người đọc vận dụng kiến thức.
Các câu hỏi gồm ba dạng, tương ứng với ba dạng câu hỏi thi thường gặp trong các đề thi tư pháp quốc tế phổ biến. Loại thứ nhất là các câu hỏi bản trắc nghiệm, yêu cầu trả lời đúng, sai và giải thích. Loại thứ hai là các câu hỏi tự luận, yêu cầu phân tích, bình luận về một vấn đề pháp lý. Loại thứ ba là một vài tình huống giả định hoặc thực tiễn yêu cầu người được vận dụng kiến thức để giải quyết. Các dạng bài tập này được xây dựng để giúp người học luyện kỹ năng trả lời nhanh, kỹ năng phân tích, lập luận và kỹ năng giải quyết tình huống trong tư pháp quốc tế.
Cuốn sách được biên soạn với cấu trúc chương mục như sau:
4. Đánh giá bạn đọc
5. Kết luận
Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé! Chúc các bạn đọc sách hiệu quả và thu được nhiều thông tin hữu ích từ cuốn sách “Sách Hướng dẫn học tư pháp quốc tế" do TS. Vũ Thị Phương Lan, TS. Nguyễn Thái Mai (đồng chủ biên).
Luật Minh Khuê trích dẫn dưới đây nội dung về phương pháp điều chỉnh và nguồn của luật tư pháp quốc tế mà các tác giả trình bày trong cuốn sách để bạn đọc tham khảo:
Phương pháp điều chỉnh:Tư pháp quốc tế có hai phương pháp điều chỉnh cơ bản, đó là: phương pháp thực chất và phương pháp xung đột.Phương pháp thực chất là phương pháp điều chỉnh trực tiếp, giải quyết quan hệ pháp lý phát sinh bằng cách xác định trực tiếp quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ. Phương pháp này được thực hiện trên cơ sở áp dụng các quy phạm thực chất được xây dựng trong pháp luật quốc gia, điều ước quốc tế và tập quán quốc tế có liên quan.Phương pháp xung đột là phương pháp điều chỉnh gián tiếp, không đưa ra phương án giải quyết trực tiếp quan hệ mà điều chỉnh quan hệ bằng cách lựa chọn một hệ thống pháp luật cụ thể trong số những hệ thống pháp luật có liên quan, rồi dùng hệ thống pháp luật được chọn ra ấy để giải quyết quan hệ. Phương pháp này được thực hiện trên cơ sở áp dụng các quy phạm xung đột được xây dựng trong pháp luật quốc gia, điều ước quốc tế.Nguồn của luật tư pháp quốc tế:Tư pháp quốc tế có nguông điều chỉnh riêng biệt phù hợp với đối tượng điều chỉnh của nó, cụ thể là:Pháp luật quốc giaPháp luật quốc gia là nguồn phổ biến và chủ yếu của tư pháp quốc tế bao gồm một hệ thống các văn bản pháp luật do quốc gia ban hành. Đầu tiên phải kể tới hiến pháp, tiếp theo là các đạo luật, các văn bản dưới luật. Copy phạm tư pháp quốc tế có thể được xây dựng rải rác trong hiến pháp, các đạo luật, các văn bản dưới luật nhưng cũng có thể được phát triển thành các đạo luật chuyên biệt. Pháp luật quốc gia với tư cách là nguồn của tư pháp quốc tế thường được áp dụng ở một quốc gia để giải quyết quan hệ tư pháp quốc tế trong những trường hợp sau đây:Thứ nhất: khi có quy phạm thực chất trong pháp luật quốc gia trực tiếp điều chỉnh quan hệ tư pháp quốc tế.Thứ hai: khi trong hợp đồng quốc tế có thỏa thuận áp dụng pháp luật quốc gia nhất định.Thứ ba: khi có sự dẫn chiếu của quy phạm xung đột trong điều ước quốc tế hoặc pháp luật quốc gia.Thứ tư: khi cơ quan giải quyết tranh chấp thường là trọng tài quốc tế lựa chọn luật áp dụng cho tranh chấp là pháp luật quốc gia nhất định.Đối với tư pháp quốc tế Việt Nam, các quy phạm tư pháp quốc tế Việt Nam được xây dựng rải rác trong nhiều văn bản pháp luật thuộc các lĩnh vực khác nhau để điều chỉnh các quan hệ tương ứng, như: hiến pháp năm 2013, luật hôn nhân và gia đình năm 2014, luật đầu tư năm 2014 sửa đổi bổ sung năm 2016,2017, luật nhà ở năm 2014, luật doanh nghiệp năm 2014, luật hộ tịch năm 2014, bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, bộ luật dân sự năm 2015...Điều ước quốc tếĐiều ước quốc tế cũng là nguồn quan trọng của tư pháp quốc tế và được hình thành ngày càng nhiều về số lượng, đa dạng về nội dung điều chỉnh. Không phải điều ước quốc tế nào cũng không quên của tư pháp quốc tế mà chỉ những điều ước quốc tế chứa đựng quy phạm tư pháp quốc tế và quốc gia phải là thành viên của điều ước quốc tế đó, lúc này điều ước quốc tế mới trở thành nguồn của tư pháp quốc tế. Tuy nhiên, cũng có một số trường hợp đặc biệt, dù quốc gia chưa là thành viên điều ước quốc tế nhưng điều ước quốc tế đó vẫn trở thành nguồn của tư pháp quốc tế. Với vai trò là nguồn của tư pháp quốc tế, điều ước quốc tế thường được áp dụng ở một số quốc gia để điều chỉnh quan hệ Tư pháp quốc tế trong những trường hợp sau đây:Thứ nhất, khi điều ước quốc tế mà quốc gia là thành viên chứa đựng quy phạm điều chỉnh trực tiếp quan hệ tư pháp quốc tế phát sinh.Thứ hai, điều khoản về luật áp dụng trong hợp đồng quốc tế có quy định việc áp dụng điều ước quốc tế cụ thể.Thứ ba, điều ước quốc tế được áp dụng khi cơ quan giải quyết tình chấp thường là trọng tài quốc tế lựa chọn luật áp dụng cho tranh chấp là điều ước quốc tế.Hiện nay, Việt Nam đã là thành viên của nhiều điều ước quốc tế đa phương và song phương trong lĩnh vực tư pháp quốc tế, điển hình như các điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp, thương mại, đầu tư, sử dụng trí tuệ. Theo nguyên tắc chung của tư pháp quốc tế, khi có sự quy định khác nhau về cùng một vấn đề giữa điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia thì sẽ ưu tiên áp dụng quy định trong điều ước quốc tế.Tập quán quốc tếTập quán quốc tế là những quy tắc xử sự được hình thành từ lâu đời, được sử dụng thường xuyên, liên tục, và được các quốc gia thừa nhận rộng rãi. Chỉ những tập quán quốc tế chứa đựng quy phạm tư pháp quốc tế mới trở thành nguồn của tư pháp quốc tế. Trên thực tế, tập quán quốc tế là nguồn của tư pháp quốc tế chỉ suất hiện chủ yếu trong lĩnh vực thương mại và hàng hải. Có nhiều cách để phân loại tập quán quốc tế, xong tập quán quốc tế thường được phân loại thành tập quán quốc tế chung ví dụ khi cô tôm 2010, Uche bê 600 và tập quán quốc tế vùng, khu vực ví dụ FOB,CIF của Bắc Mỹ được sử dụng bởi các thương nhân của Hoa Kỳ, Canada và Mexico.Tập quán quốc tế với vai trò là nguồn của tư pháp quốc tế sẽ được áp dụng trong những trường hợp sau:Thứ nhất, tập quán quốc tế được các điều ước quốc tế có liên quan quy định áp dụng.Thứ hai, tập quán quốc tế được áp dụng khi được luật quốc gia quy định áp dụng.Thứ ba, tập quán quốc tế được áp dụng khi các bên trong hợp đồng quốc tế có thỏa thuận trong hợp đồng về việc áp dụng tập quán quốc tế.Thứ tư, tập quán quốc tế được áp dụng khi cơ quan giải quyết tranh chấp thường là trọng tài quốc tế lựa chọn luật áp dụng cho tranh chấp.Tập quán quốc tế cũng được coi là một loại nguồn của tư pháp quốc tế Việt Nam và được áp lực học phổ biến trong thực tiễn, đặc biệt là trong lĩnh vực thương mại và hàng hải quốc tế. Cô tế Việt Nam hiện có quy định khả cụ thể về việc áp dụng tập quán quốc tế điều chỉnh quan hệ tư pháp quốc tế.......